tìm hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ để chứng minh rằng đây là một bài thơ trữ tình đầy xót thương

Trường Tiểu Học Đằng Lâm

Updated on:

tìm hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ để chứng minh rằng đây là một bài thơ trữ tình đầy xót thương
Bạn đang xem: tìm hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ để chứng minh rằng đây là một bài thơ trữ tình đầy xót thương tại Kênh Văn Hay

tìm hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ để chứng minh rằng đây là một bài thơ trữ tình đầy xót thương hay nhất. Mời những em tham khảo bài tìm hiểu để làm rõ niềm xót thương của tác giả đối với những kiếp người sống khốn cùng, quẩn quanh, bế tắc ở phố huyện nghèo trước cách mệnh.

tìm hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ để chứng minh rằng đây là một bài thơ trữ tình đầy xót thương

Đề bài: tìm hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ để chứng minh rằng đây là một bài thơ trữ tình đầy xót thương

tìm hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ để chứng minh rằng đây là một bài thơ trữ tình đầy xót thương

Trên văn đàn văn học Việt Nam trước cách mệnh tháng Tám, Thạch Lam chưa được xếp ở vị trí số một nhưng cũng là một tên tuổi rất đáng coi trọng và khẳng định, Thạch Lam tuy có viết truyện dài nhưng sở trường của ông là truyện ngắn, bởi ở đó tài năng nghệ thuật được bộc lộ một cách trọn vẹn, tài hoa. Nguyễn Tuân viết: “Nói tới Thạch Lam người ta vẫn nhớ tới truyện ngắn nhiều hơn là truyện dài”. Đóng góp của Thạch Lam không chỉ ở nghệ thuật mà nó còn giúp ta thanh lọc tâm hồn : ” Mỗi truyện là một bài thơ trữ tình đầy xót thương”.

Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam cũng là “một bài thơ trữ tình đầy xót thương” như thế . Thạch Lam tuy có chân trong Tự lực Văn đoàn nhưng tư tưởng thẩm mĩ lại theo một hướng riêng. Ông xây dựng cho mình một toàn cầu nhân vật khác. Ông lặng lẽ hướng ngòi bút của mình về phía những người nghèo khổ với tấm lòng trắc ẩn thực tâm? ( Phong Lê ). toàn cầu nhân vật là những lớp người nghèo khổ khốn cùng bế tắc nói chung, những nhân vật của Thạch Lam thật nhỏ bé và tội nghiệp: Họ thường nép mình trong bóng tối của một không gian hẹp thường là nơi phố huyện tiêu điều, xơ xác hoặc những xóm nghèo ngoại thành Hà Nội. Nhân vật của ông chủ yếu là con người thân phận, họ thường tìm kiếm nơi ẩn nấu trong gia đình, giữa bốn bức tường hoặc trong sân vườn, tức là tách khỏi thế cuộc, nơi xã hội đầy bất trắc bên ngoài. có nhẽ như thế con người mới cảm nhận hết về mình và về cuộc sống xung quanh. nhịn nhường như họ thu mình trước thực tiễn để xót mình và thương người, để bâng khuâng man mác khi hồi ức về quá khứ? Không dám nhìn về tương lai, mang nặng một tự ti mờ mịt trong lòng khi nghĩ về ngày mai.

giác quan trong truyện của Thạch Lam có thể gói gọn trong ba chữ đó là niềm xót thương. Những con người nhỏ bé ấy bao giờ cũng được nhà văn học trong một không khí trữ tình đầy mến thương toả ra một cách dịu dàng từ tấm lòng tác giả …

Truyện của Thạch Lam không có cốt truyện đặc biệt, giọng điệu và tiếng nói nhiều chất trữ tình: Mỗi truyện ngắn của Thạch Lam có cấu từ và giọng điệu như một bài thơ trữ tình, gợi sự thương xót trước số phận của những con người nhỏ bé xấu số. Một giọng văn bình dị mà tinh tế. Âm điệu man mác bao trùm hầu hết truyện ngắn và thiên nhiên cũng trữ tình. Văn cứ mềm mại, uyển chuyển, giàu hình ảnh, nhạc điệu . Đó chính là chất thơ trong truyện ngắn Thạch Lam, “có cái dịu ngọt chăng tơ ở đâu đây” khiến ta vương phải.

“Hai đứa trẻ” là đặc trưng của hồn văn Thạch Lam. Nó là “một bài thơ trữ tình đầy xót thương”

Truyện ” Hai đứa trẻ” của Thạch Lam là một mẩu chuyện sinh hoạt kéo dài của hai chị em đứa trẻ thay mẹ trông lom một gian hàng vặt ở một phố huyện sắp một cái ga xép. Đêm đêm những bóng người thông thường cũng lù mù đi qua trước gian hàng. Những bóng người ấy cũng lù mù như nhiều chấp lửa ở những nguồn sáng quanh quất nơi phố huyện. Trong cái bốn bề chìm chìm nhạt nhạt, bỗng nổi tiếng động mạnh và những luồng sáng mạnh của một chuyến xe lửa kéo qua hàng ngày. Hai chị em ngày nào cũng chờ một chuyến tàu đêm kéo qua ra mới chịu đóng cửa hàng. Nguyễn Tuân đã tóm tắt truyện như thế. Đúng vậy, truyện này tưởng như không có cốt truyện, không có biến cố. Nó chỉ là biến diễn của một thời gian ngắn, từ khoảng năm giờ chiều khi “phương tây đỏ rực như lửa cháy” tới chín giờ tối “đêm tối bao bọc chung quanh”; nó chỉ là biến diễn bên trong “tâm hồn ngay thơ của hai chị em Liên, An trong một buổi tối của những thường nhật tưởng như ” tẻ nhạt”, “không có gì” … Song vượt lên trên những thường nhật, Thạch Lam bằng tuyến đường nghệ thuật riêng với toàn cầu nghệ thuật riêng, một thời gian riêng, không gian riêng, nhân vật riêng, tiếng nói riêng đã tạo nên khí vị nhẹ nhõm, buồn man mác, mặn mà hương vị đồng quê; nhiều bóng tối mà chói sáng mối tình thương yêu hiền hoà, nhân hậu, xót thương thực tâm, phảng phất thơ toả lên từ quê hương. Truyện không có cốt truyện như chất chứa biết bao cảnh đời, bao tâm trạng, tâm trạng sâu lắng tinh tế.

Diện mao phố huyện được Thạch Lam tái tạo là một quang cảnh buồn, là cảnh chiều tàn đi dần vào đêm khuya. Hàng ngà, những cái ồn ào của buổi sáng làm không khí bị nhòe đi trong nắng như tới chiều thì cái gương mặt thật của phố huyện hiện ra với tất cả những cái tiêu điều, xác xơ, tàn lụi. “Chiều chiều rồi” như là một lời thảng thốt, sững sờ như một tiếng thơ dài. Thế là một buổi chiều nữa lại tới, chiều là buồn. Ấn tượng về buổi chiều khá sâu đậm. Thạch Lam đã chọn lựa một phiên chợ tàn để nói lên được tất cả gương mặt của phố huyện. Chợ là nơi biểu hiện sức sống của một làng quê, biểu hiện thuần phong mĩ tục của làng quê. Người ở nông thôn thường trông chờ vào ngày chợ phiên đông vui tấp nập. Thạch Lam đã chọn lựa ngày chợ phiên để nói cái xác xơ tiêu điều của phố huyện. Mặc dù không tả buổi chợ phiên nhưng ông đã tả những truất phế phẩm còn lại của buổi chợ, đó cũng là cách biểu hiện sức sống đầy hay vơi của phố huyện. Tả những con người cuối cùng trao đổi với nhau rồi bước vào những ngỏ tối. Rác chỉ là những thứ truất phế thải vớ vẫn “rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía, những thanh nứa thanh tre…Lũ trẻ vẫn còn ra bòn mót, nhặt nhạnh. Ngày chợ phiên như thế thì sức sống đã kém lắm, đã yếu lắm rồi. Người bán trông vào người mua và trái lại nhưng chỉ là sự vô vọng, quẩn quanh, trông chờ vào sự vô vọng. Mùi vị toả ra trong không gian này là một thứ mùi đặc trưng để nói tới sự nghèo nàn. Đó là mùi bã mía, vỏ bưởi, vỏ thị, đất ẩm, mùi khói, mùi cỏ, mùi phân trâu nồng nồng ngai vàng ngái… Cái mùi vị ấy cũng góp phần làm cho quang cảnh thêm phần tàn tạ, héo úa, lụi dần.

Có thể thấy xung đột giữa bóng tối và ánh sáng khá mạnh mẽ. Ánh sáng và bóng tối đang giao tranh nhau. Ánh sáng yếu dần ban đầu là ” bầu trời đỏ rực như lửa cháy, mây ánh hồng như hòn than sắp tàn” sau đó là bóng tối hiện dần ở bóng xẩm trên ngọn tre và cuối cùng bao trùm lên khu phố huyện là cái bóng tối mênh mông của nó, tín hiệu là ngọn đèn Hoa Kỳ của chị Tí. Ở đây ánh sáng và bóng tối còn mang ý nghĩa tượng trưng, ánh sáng là ước mơ , bóng tối là nghèo nàn và đơn chiếc; mở đầu chuyện ánh sáng tắt dần, bóng tối chiếm lĩnh. Chính cái ánh sáng cuối cùng ấy báo hiệu rõ màn đêm- màn đêm vừa sâu vừa dày sẽ diễn ra tiếp đó. Ánh sáng ngày một thu nhỏ phạm vi hoặc ở xa manh mảnh, lí tí như ánh sáng của ngôi sao trên bầu trời hoặc yếu ớt âm u lọt qua khe cửa khép hờ hoặc toả trên cái bóng tre của chị Tí. Ánh sáng ấy biểu hiện một sự tàn lụi ở cường độ thấp và khả năng thu hẹp của nó. Tiếng trống thu không rời rạc, chậm, lẽ tẻ và cứ tắt lịm dần. Nhưng âm thanh nhỏ nhất như tiếng muỗi vo ve gợi cảm giác về sự ngưng đọng. Nó rơi tỏm vào trong không gian đang chết lặng. Đó là những âm thanh không có phúc đáp, nó chỉ nhấn mạnh thêm cái buồn tẻ tới rợn người của phố huyện lúc chiều tối. Tất cả hô ứng, qui tụ để cho người đọc thấy rõ được quang cảnh thật của phố huyện một ngày tàn. Thạch Lam trình bày nhận xét một cách tinh tế, sâu xa bước đi thời gian của nơi phố nghèo. Người đọc nhịn nhường như thấy được bước chuyển biến của thời gian rung lên bằng tiếng nói riêng. Sức rung động của câu văn có khả năng đánh thức con người hãy cảm nhận thật tinh tế quang cảnh phố huyện và tâm sự của Thạch Lam.

Trên cái nền ấy, những cảnh đời, những con người, đúng hơn là những phiến cảnh về thế cuộc, về con người bé mọn, hoàn toàn không có ước vọng, khát khao được khắc hoạ rõ nét. Họ nói chuyện với nhau nhưng nhịn nhường như chẳng có nội dung. Họ có đi lại, ăn nói với nhau nhưng chỉ thấy họ vừa lòng thoả mãn với cảnh chật hẹp. Mua chịu nửa bánh xà phòng, bán đong hơn một ngấn rượu trong chiếc cút bé nhỏ …Chị Tí là tiêu biểu cho người dân phố huyện với nhịp sống quẩn quanh : ban ngày mò cua bắt tép, ban tối chị mới mở cái hàng bán nước. Cái đáng sợ là vẫn biết bán không được gì “trước sau mà có ăn thua gì?” mà vẫn cứ ra. Đây không phải là sự sống thực sự mà là sự sống cầm chừng cầm cự với cuộc sống, giao tranh, tranh giành với cái đói, cái chết trông chờ vào những người trên tàu là qua cập kênh có khác gì trông chờ vào những người khách ấy để sống. Cách chị Tí trả lời nghi vấn của Liên: Không trực tiếp trả lời ngay mà còn làm thêm để chõng xuống đất, bày vẽ những bát uống nước mãi rồi mới chép mồm trả lời : “Ối chao, trước sau mà có ăn thua gì”. Câu văn cho ta thấy nhịp sống chập chạp, quẩn quanh của nhân vật. bác bỏ phở Siêu có vẻ khá hơn nhưng nhưng nguy cơ lại lớn hơn vì thứ mà bác bỏ bán là thứ quà xa xỉ mà ngay cả chị em Liên cũng không dám ăn. bác bỏ Xẩm góp tiếng đàn run lập cập trong đêm tối, mà không hề nổi tiếng động nào của một đồng xu. Bà cụ là một con người bị tàn lụi, héo úa và cho ta cảm giác rợn người, kinh hoàng. Bà là kiếp người đáng sợ ở chi tiết vừa đi vào bóng tối vừa cười khanh khách. Cách xưng hô với Liên “chị” đã kéo xa khoảng cách tình giữa con người với con người vốn nó rất cần trong hoàn cảnh cầm chứng này. Cụ Thi điên là một nạn nhân đầy đủ nhất của kiếp người, như một cái cây đã tàn lụi quá nhiều – kiếp người héo hon – tàn lụi. Cụ Thi xuất hiện chỉ trong mấy dòng truyện ít ỏi nhưng đã sợ hãi người đọc, thức dậy trong ta lòng trắc ẩn thực tâm.

Ở vị trí tiền cảnh của bức tranh đời buồn thảm, héo tàn, mờ mờ lay động bóng hai chị em nhỏ tuổi cũng thầm lặng không kém với cái “cửa hàng tạp hoá tí xíu” mà khách hàng là những người khốn khổ có khi không đủ tiền mua nổi nửa bánh xà phòng hoặc chỉ đủ tiền cho cút rượu nhỏ “uống một tương đối cạn sạch”. Liên xót xa cho những kiếp người lay lắt nhưng cuộc sống của Liên cũng cầm chừng không kém. Nỗi khổ của Liên có nhẽ còn cao hơn nỗi khổ vật chất của những người khác, đó là thảm kịch ý thức bởi họ khổ mà không biết mình khổ còn Liên đã thực sự thấm thía cảnh sống tẻ nhạt tù hãm và đơn độc hết ngày này sang ngày khác. giải pháp duy nhất để khuây khoả nỗi hắt hiu, đơn điệu chỉ là đêm nào cũng mỏi mắt nỗ lực chờ đợi một chuyến tàu đi qua: “đó là hoạt động cuối cùng của đêm khuya”.

Ánh sáng của đoàn tàu là mảng ánh sáng rực rỡ, mạnh mẽ song ở ánh sáng này cũng chỉ vụt loé lên nhanh như một vì sao sa để rồi vĩnh viễn tắt lịm trong màn đêm khiến ta phải ngờ ngạc, sững sờ.

nhịn nhường như “Hai đứa trẻ” là truyện của những nguồn ánh sáng, hồi ức của Liên cũng là hồi ức về ánh sáng. Lần trước tiên Liên “nhớ lại” Hà Nội, một kí ức không rõ rệt, Hà Nội là một vừng sáng rực lóng lánh “và” Hà Nội nhiều đèn quá. Lần thứ hai, Liên mơ tưởng “Hà Nội xa xăm” , “Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo” . Cái cảnh tượng của quá khứ đẹp đẽ ấy tương phản gay gắt với cái tối mò mù dưới gốc bàng của hiện tại đang diễn ra. Quá khứ và hiện tại, ánh sáng và bóng tối, lãng mạng và hiện thực, giấc mơ nghèo và sự thực nghèo khổ, tất cả tạo nên biến động sâu kín trong tâm hồn Liên. Ánh sáng của đoàn tàu là ánh sáng của ước mơ, nó chỉ thoáng qua, tắt lịm và để rồi tất cả lại chìm trong bóng tối mênh mông, buồn tẻ.

Tất cả những nhân vật đó đã hiện ra dưới cái nhìn xót thương của người tái tạo. Và nỗi thương cảm của Liên đối với mấy đứa trẻ đi nhặt rác, với chị Tí, với bác bỏ Siêu, với cụ Thi điên cũng là xúc cảm của chính Thạch Lam. Thạch Lam đã hoá thân vào nhân vật để nói cái giác quan xót thương của mình. Đoàn tàu với thoáng sáng vụt qua rất nhanh rồi tắt lịm đã thay đổi một tẹo ít không khí của toàn cầu hiện tại, phải chăng đó là khát vọng thoát khỏi cuộc sống tù đọng dù chỉ trong khoảnh khắc của Thạch Lam. Nhà văn day dứt về một kiếp sống tàn lụi, héo úa, đơn điệu, hư vô chứ không chỉ có xót thương thông thường. Chính vì vậy mà ông trình bày hiện thực của phố huyện mang ý nghĩa khái quát lớn của xã hội Việt Nam về sự trì trệ. nếu như đặt trong dòng thời sự văn học buổi ấy, ta thấy Thạch Lam phản ánh khá rõ nét một hoàn cảnh, tâm lí thời đại mà Nam Cao đã phải từng thốt lên : “thế cuộc đang cùn đi, gỉ đi, nổi váng lên”…

“Hai đứa trẻ” là một truyện ngắn như một bài thơ trữ tình bởi cấu từ, giọng điệu, tiếng nói của nó, giống như một bài thơ.

Cấu từ của truyện là cấu từ vòng tròn xoay quanh hình ảnh bóng tối được lặp đi lặp lạI nhiều lần (không dưới ba mươi lần). Khi trình bày cảnh trời phố huyện cũng như cảnh đời những con người phố huyện, tác giả đặc biệt có ý sử dụng một cách công phu yếu tố nghệ thuật: Hình ảnh bóng tối bao trùm cảnh vật và con người mà tác giả dụng dự án bày từ nhiều thời khắc, từ nhiều góc nhìn, từ nhiều tâm trạng khác nhau. Bóng tối như một sợ hãi, như một sự hăm dọa, như một quái vật đè nặng lên cảnh vật và con người. Tác giả nhắc tới bóng tối nhiều lần dưới những cách nói hình ảnh từ ngữ tuy có khác nhau : “buổi chiều hòn than sắp tàn”, “mặt đen lại”, “chiều, chiều rồi” , “bóng tối ngập đầy” , “bước của buổi chiều” , “ngày tàn” . Tác giả trình bày rất nhiều trạng thái khác nhau của bóng tối tới với tiếng trống thu không tư trên chòi cao, bóng tối sắp tới với những đám mây hồng như hòn than sắp tàn, bóng tối tới với dãy tre làng đen lại, bóng tối tới với cánh muỗi vo vo, bóng tối tới với những viên đá nhỏ trên tuyến đường mấp mô, bóng tối trùm lên đường phố và những ngõ huyện… Nói tóm lại, bóng tối được lặp đi lặp lại đầu và cuối huyện. Bóng tối như một cái gì hãi hùng đang hoạt động, đang xâm nhập, đang len lỏi, luồn lách, bám sát vào mọi cảnh vật, mọi trạng thái hoạt động thầm lặng của mọi sinh vật. Nó như cái nền không gian nghệ thuật của tác phẩm và không gian xã hội của con người. Bởi tối là lúc chị Tí xuất hiện “tối tới chị mới dọn cái hàng dưới gốc cây bàng”; về đêm bác bỏ phở Siêu mới xuất hiện như một chấm lửa nhỏ và vàng lửng lơ đi trong đêm tối, mất đi rồi lại hiện ra … bóng tối là nơi cụ Thi mang tới và mang đi “một tiếng cười khanh khách nhỏ dần” , một cụ Thi thế cuộc mập mờ nhưng rõ ràng là đang chứa ẩn một nỗi lòng u uất cứ chìm trong bóng tối; vợ chồng bác bỏ Xẩm thu gọn trên manh chiếu chật hẹp, với chị em Liên, tác giả kể tỉ mỉ hơn nhưng tâm trạng, những suy nghĩ của hai đứa trong đêm tối: đêm tối ngập đầy đôi mắt của Liên, Liên thích ngồi yên lặng ngắm nhìn trong đêm tối, về khuya, Liên ngồi yên lặng trong đêm chờ đón đoàn tàu, khi tàu vụt qua, Liên nhập dần vào giấc ngủ yên tĩnh như đêm ở trong phố tịch mịch và đầy bóng tối…

Lặp đi lặp lại gián tiếp hay trực tiếp hình tượng bóng tối cũng chính là cách để tác giác bộc lộ chủ đề tác phẩm qua giác quan xót thương và tạo cho truyện có âm hưởng, cấu từ như một bài thơ trữ tình.

Mặt khác, việc trình bày những cảm giác thiên nhiên rất hiếm trong hiện thực phê phán nhưng trong “Hai đứa trẻ” , Thạch Lam luôn luôn trình bày khi có thời cơ. Thiên nhiên bao bọc truyện với nhiều trạng thái phong phú. Tác giả còn chú ý khắc hoạ được cảm giác mơ hồ về giờ phút của ngày tàn và về vũ trụ thăm thẳm bát ngát rất sắp gũi mang sắc thái dân tộc, cũng chính vì vậy mà nhân vật chính của câu chuyện là Liên cứ mang theo vẻ hồn man mác.

Chất thơ còn được thể hiện ở ngữ điệu nhỏ nhẹ, man mác thú vị ở lời văn, ở những xúc cảm tinh tế của một tâm hồn dể rung động. Truyện cứ trải dài ra như một bài thơ, lắng sâu thanh lọc hồn ta. Chất nhạc thấm trong từng câu văn thấm thía. Một giọng văn bình dị mà tinh tế, đầy ưu ái. Có thể nói ” hai đứa tẻ” là một bài thơ trữ tình trọn vẹn của Thạch Lam.

Khi nói “mỗi truyện là một bài thơ trữ tình đầy xót thương” thì người nói muốn nhấn mạnh cả về nội dung lẫn phương thức của truyện. Nội dung thể hiện phương thức và trái lại. Nó là sự gắn bó hoài hoà để tạo nên tác phẩm. Văn phong của Thạch Lam được thể hiện đặc trưng trong “Hai đứa trẻ”, và tôi muốn kết thúc bài viết này bằng ý kiến của Nguyễn Tuân: “Ngày này đọc lại Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học.”

*************

Trên đây là chi tiết bài văn mẫu tìm hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ để chứng minh rằng đây là một bài thơ trữ tình đầy xót thương của Thạch Lam hay, chi tiết. Tiếp theo, để hiểu rõ thêm về nội dung, phương thức và trị giá nghệ thuật của truyện, những em học sinh cần tham khảo thêm bài tìm hiểu truyện Hai đứa trẻ, Chất hiện thực và chất lãng mạn trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, tìm hiểu hình ảnh chuyến tàu đêm chạy qua phố huyện trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, tìm hiểu bức tranh phố huyện lúc chiều tàn trong Hai đứa trẻ,…

Đăng bởi: THPT Lê Hồng Phong

Chuyên mục: Giáo Dục

Bản quyền bài viết thuộc THPTSocTrang.Edu.Vn. Mọi hành vi sao chép đều là gian lận!

Nguồn chia sẻ: thptsoctrang.edu.vn

Bạn thấy bài viết tìm hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ để chứng minh rằng đây là một bài thơ trữ tình đầy xót thương có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về tìm hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ để chứng minh rằng đây là một bài thơ trữ tình đầy xót thương bên dưới để Kênh Văn Hay có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: kenhvanhay.edu.vn của Kênh Văn Hay

Nhớ để nguồn bài viết này: tìm hiểu truyện ngắn Hai đứa trẻ để chứng minh rằng đây là một bài thơ trữ tình đầy xót thương của website kenhvanhay.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm bài viết hay:  Bài 4 trang 130 SGK Ngữ văn 10 tập 1

Viết một bình luận