tìm hiểu hình tượng người chí sĩ yêu nước trong bài Lưu biệt khi xuất dương

Trường Tiểu Học Đằng Lâm

Updated on:

tìm hiểu hình tượng người chí sĩ yêu nước trong bài Lưu biệt khi xuất dương
Bạn đang xem: tìm hiểu hình tượng người chí sĩ yêu nước trong bài Lưu biệt khi xuất dương tại Kênh Văn Hay

Đề bài: tìm hiểu hình ảnh người chí sĩ yêu nước trong bài Tiễn biệt khi ra nước ngoài

tìm lại hình ảnh người chí sĩ yêu nước trong bài Tiễn biệt khi ra nước ngoài gây ấn tượng mạnh với người đọc

I. Dàn ý tìm hiểu hình tượng người chí sĩ yêu nước trong bài Tiễn biệt người khi ra nước ngoài

1. Mở bài

– Phan Bội Châu là người đầu tiên có tư tưởng cứu nước theo con đường tư sản, ông có nhiều hoạt động sôi nổi trong buổi đầu phong trào cách mạng. Phan Bội Châu còn được biết đến là một nhà văn, nhà thơ lớn nửa đầu thế kỷ 20, người đã ươm những mầm mống đầu tiên cho dòng văn học trữ tình chính trị của Việt Nam lúc bấy giờ.– Bài thơ “Giã Từ Khi Xuất Hành” là một trong những tác phẩm tiêu biểu tiêu biểu cho nhiệt huyết, ý chí rộng rãi và cao cả của người yêu nước.

2. Thân bài* Hình tượng người quân tử hiện lên qua ý kiến ​​về chí làm người trong thời đại mới – “Làm trai phải lạ ở đời”, ý kiến ​​mà đàn ông sống trên đời cần có sống có lí tưởng cao đẹp. chí ở bốn phương, dám bước ra khỏi giới hạn và khuôn phép, làm nên việc lớn với tính cách phi thường và vẻ vang.– “Vũ trụ hãy để vũ trụ tự vận động”: Con người phải nắm lấy và làm được. làm chủ vận mệnh của mình, tầm vóc sánh ngang trời đất, thậm chí dịch chuyển cả vũ trụ => Lời nói tự tin, mạnh dạn…(Còn tiếp)

>> Xem dàn ý tìm hiểu về hình tượng người chiến sĩ yêu nước trong toàn bài “Chia tay khi ra nước ngoài” tại đây.

II. Bài văn mẫu về hình tượng người chí sĩ yêu nước trong bài Giã từ khi ra nước ngoài

Phan Bội Châu (1867-1940), quê ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, xuất thân trong một gia đình Nho học, từ nhỏ đã bộc lộ tài năng và học vấn hơn người. Sau khi lớn lên, với lòng yêu nước và lòng tự hào dân tộc sâu sắc, ý thức được cảnh nước mất nhà tan, Phan Bội Châu đã tích cực tham gia các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp. Tuy nhiên, do tính chất nhỏ lẻ, không có đường lối đúng đắn nên hầu hết các cuộc khởi nghĩa kiểu cũ đều thất bại, lúc này Phan Bội Châu lần đầu nung nấu trong đầu chí hướng cứu nước theo đường tư đường. sản – con đường mà Nhật đã đi rất thành công, từ đó Hội Duy Tân được thành lập, phát động phong trào Đông Du, cử thanh niên ưu tú ra nước ngoài du học. Ngoài vai trò là một danh sĩ có nhiều hoạt động cách mạng sôi nổi, Phan Bội Châu còn được biết đến là nhà văn, nhà thơ lớn nửa đầu thế kỷ 20, có đóng góp đáng kể cho nền văn học nước nhà. trang chủ. Có thể nói, Phan Bội Châu được coi là người ươm mầm đầu tiên cho dòng văn học trữ tình chính trị của Việt Nam lúc bấy giờ. Bài thơ “Tiễn biệt người ra nước ngoài” là một trong những tác phẩm tiêu biểu tiêu biểu cho khí phách, lòng dũng cảm và vẻ đẹp cao cả, cao cả của người chí sĩ yêu nước trước khi lên đường du học với niềm hi vọng, niềm tin mãnh liệt vào một tương lai tươi sáng của dân tộc.

Vĩnh biệt người ra đi được Phan Bội Châu sáng tác năm 1905, trước khi lên đường sang Nhật Bản để từ biệt bạn bè, đồng chí, bài thơ vừa có ý nghĩa động viên, cảnh tỉnh người ra đi, vừa có ý nghĩa động viên. , củng cố niềm tin và ý thức của những người ở lại về một tương lai tốt đẹp của dân tộc, về một con đường cứu nước mới đầy triển vọng, mặc dù Phan Bội Châu mới bắt đầu những bước tiên phong. . Hình tượng người chí sĩ yêu nước xuất hiện trước hết trong ý kiến ​​của các danh nhân về ý chí làm người trong thời đại mới, trong hoàn cảnh đất nước có nhiều thăng trầm, nội thù, giặc ngoài.

“Làm trai phải lạ đời, để vũ trụ tự vận động”

Tương tự khi đọc cả hai câu thơ, ý thơ về ý làm trai được tóm gọn trong một chữ “lạ”, còn các chữ khác chỉ nhằm bổ nghĩa cho chữ “lạ” đó. Phan Bội Châu cho rằng, là đàn ông, sức dài vai rộng, sống trên đời phải có hoài bão, lý tưởng cao đẹp, vượt lên trên những thứ tầm thường như cơm, áo, gạo, tiền, và tự trọng. mưu những việc lớn, làm những việc không ai dám làm, với lòng kiên định và niềm tin vững chắc. Đặc biệt, người đàn ông phải đưa mình ra khỏi chốn “nước đọng” hiền hòa, chật hẹp, vượt qua những trăn trở được mất mà vươn ra biển lớn, mưu toan những điều phi pháp. thường vẻ vang để xứng với hai chữ nam nhi. Nhưng cũng như Xuân Diệu đã từng có câu thơ rất hay “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt/ Còn hơn buồn le lói trăm năm”, con người cũng vậy, cuộc đời 60 năm ngắn ngủi, ít nhất cũng phải có một lần. đều sáng sủa, vĩ đại, còn nếu chấp nhận cuộc sống dài lâu yên tĩnh thì thật uổng phí. Để củng cố, bổ sung cho quan điểm nam tính của mình, Phan Bội Châu đã làm sáng tỏ quan điểm của mình bằng câu thơ tiếp theo “Hà để vũ trụ tự vận động”. Rằng đàn ông đã định tứ phương, phải nắm giữ và làm chủ vận mệnh của mình, đừng để trời đất, tạo hóa buông xuôi số mệnh như chiếc lá trôi theo dòng nước, không biết lạc vào đâu. Tư tưởng chủ đạo của bài thơ là lời khuyên của Phan Bội Châu đối với tuổi trẻ, hãy dám đặt mình ngang hàng với trời đất, với thiên nhiên, chủ động quyết định vận mệnh của mình, thậm chí là thay đổi thế giới bằng một vũ khí cực kỳ mạnh mẽ, tự tin và táo bạo. Quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu không chỉ hiện diện trong thơ văn của ông mà nó đã ẩn hiện trong ca dao, thơ văn của nhiều danh nhân khác, tuy không hẳn giống nhau nhưng cũng có những nét tương đồng. thỏa thuận về vũ khí và tài sản. Chẳng hạn trong “Chí làm trai” của Nguyễn Công Trứ có câu “Chí làm trai nam bắc đông tây/Chợ phùng bốn bể đánh nhau”, hay trong ca dao Việt Nam cũng có câu này. nhiều câu rất hay “Là đàn ông thì đáng đời”. trai/ Xuôi về Đông lặng, lên Đoài xứ Yên” hay “Trai sang nên trai/ Phú Xuân cũng về Đồng Nai”.

“Trong khoảng một trăm năm, sẽ không có ai.”

Sau hai câu nói về khái niệm chung về chí khí, rồi đến hai câu thực, Phan Bội Châu tiếp tục nêu quan điểm về vai trò và trách nhiệm của chí khí trước thời đại, đó là bổn phận đối với quốc gia dân tộc, đặc biệt là trong thời kỳ những biến động của đất nước, những người đàn ông phải nổi bật và thể hiện rõ vai trò và tinh thần của mình để phục vụ đất nước. Hình tượng hiền nhân xuất hiện với khoảng thời gian “trăm năm”, trước là để chỉ đời người, sau là để chỉ một thế kỷ biến động của dân tộc. Hiền nhân nhận rõ và đề cao trách nhiệm của bản thân, phải đứng lên đấu tranh cho lý tưởng, làm người có trách nhiệm lớn, khôi phục quốc gia. Làm sao cho xứng với sự sắp đặt của Tạo hóa, Thượng đế đã mang đến cho chúng ta một thời kỳ khó khăn, thì là một người đàn ông, các anh phải xác định rằng đất nước đang cần và các anh là rường cột của đất nước. Ngoài ra, con người anh hùng còn hiện ra không chỉ với tư cách tự nhận thức mà còn hiện ra với tầm nhìn xa trông rộng, lo lắng cho ngày mai, cho con đường cứu nước bằng cách lay động, thức tỉnh thế hệ thanh niên sau này, động viên họ bằng chính dũng khí của mình, lý tưởng của một nhà cách mạng tiên tiến. Câu hỏi “Còn ai mai sau?, là hỏi tất cả các thế hệ trẻ Việt Nam lúc bấy giờ và các thế hệ mai sau, để kéo những con người đang chìm trong vũng lầy bế tắc ra khỏi sự bơ vơ trước thời cuộc. đồng thời cổ vũ tinh thần yêu nước, lý tưởng sống, dũng khí vùng vẫy trong 4 bể để xứng đáng là đấng nam nhi, hướng họ đến một nhận thức mới, một niềm tin mới, một hy vọng mới, khơi dậy trong tâm hồn họ lòng tự trọng của họ.sự tự tin, dứt khoát của đấng trượng phu.

“Non sông cạn mái càng tủi nhục, Hiền nhân còn học khắp nơi”

Trong hai bài cáo, nhà nho hiện lên với nhận thức về vận mệnh của dân tộc, của dân tộc và của cả Nho giáo một thời huy hoàng nhưng nay chỉ còn là dĩ vãng. Phan Bội Châu viết “Non sông đã chết”, cái chết ở đây là cái chết của chủ quyền dân tộc, đất nước bị giày xéo bởi quân xâm lược tàn bạo. Trong khi đó, những kẻ được coi là đầu não, xương sống, kinh mạch của một quốc gia lại hèn nhát, sợ hãi, chỉ biết đến của cải phù phiếm của bản thân mà quên đi vận mệnh của quốc gia. chấp nhận sống hèn, nhục trong đời đô hộ, để mặc nhân dân than thở. Phải chăng một dân tộc đang mất quyền tự chủ, một dân tộc không có người lãnh đạo, “chết” hay không cũng như cái vỏ trống rỗng, những giá trị truyền thống, văn hóa của dân tộc đã bị dập tắt. dưới chế độ thực dân. Tương tự như mất nước, đó là nỗi nhục của cả một dân tộc, nhất là trong tư duy truyền thống, đối với mỗi người đọc sách thánh hiền, một con người thì nỗi nhục ấy còn đau đớn, day dứt hơn. nhiều lần nữa. “Hiền nhân còn đọc sách”, một học giả nổi tiếng theo Nho học, được giáo dục truyền thống từ nhỏ, sự phủ nhận và nhận thức rõ ràng về một nền Nho học lỗi thời, lạc hậu, có tiếng nhưng không có miếng, không còn phù hợp trong bối cảnh thời đại mới là nỗi đau khó chấp nhận. Sự tự nhận thức đó chẳng khác gì bảo một người luyện võ phải tước bỏ gông của mình và phải bắt đầu lại từ hai bàn tay trắng. Nhưng ta thấy dù đau đớn nhưng người anh hùng không nản lòng mà giọng thơ vô cùng mạnh mẽ, quyết từ bỏ những thứ vô bổ, để tiến tới một chân trời mới với một tư duy mới. sự kiêu ngạo mạnh mẽ, tâm hồn tự do, phóng khoáng.

“Muốn qua bể Đông theo gió, sóng bạc tiễn ra khơi”

Cuối cùng, hình ảnh nhà hiền triết hiện lên với hình ảnh người vượt biển tìm chân trời mới, thực hiện lý tưởng cao cả, cống hiến, phụng sự Tổ quốc với tầm vóc lớn lao, sánh cùng trời đất. . Không gian rộng lớn, khoáng đạt được gợi lên từ những hình ảnh kỳ vĩ của thiên nhiên “bể Đông” và “sóng bạc muôn trùng” thể hiện khát vọng hành động mãnh liệt của chí sĩ yêu nước. Từng đợt sóng vừa thể hiện nhiệt huyết sục sôi trong trái tim yêu nước, vừa thể hiện những chông gai song song phía trước, ngoài ra, cụm từ “giã từ biển cả” còn thể hiện sự ủng hộ của thiên nhiên với sự quyết định và lý trí. những suy nghĩ đúng đắn của người anh hùng dân tộc. Vị chí sĩ yêu nước đứng trước thiên nhiên rộng lớn, trước thời thế đầy biến động vẫn giữ vững khí thế hiên ngang, phong thái tự tin, kiêu hãnh ra đi tìm con đường mới cho Tổ quốc, dân tộc. Quả là một bức tranh đẹp.

Giã từ khi ra nước ngoài là một sáng tác sớm mang khuynh hướng trữ tình chính trị, nổi bật với hình tượng người liệt sĩ cách mạng mang vẻ đẹp anh hùng, tầm vóc sánh với trời đất, phong thái tự tin, cương nghị. dựa trên lý tưởng cao đẹp và thiêng liêng – phục vụ và cống hiến cho Tổ quốc, cứu nước bằng con đường mới. Đoạn thơ khắc họa rõ nét một tâm hồn nồng nàn, sục sôi ý chí dám đương đầu với người anh hùng, nhưng không quá cứng nhắc mà vẫn đủ nhưng phong cách lãng mạn, bay bổng của người anh hùng khao khát tự do và cuộc sống. vì một lý tưởng cao cả.

—— HẾT ——

Giã từ khi ra nước ngoài là bài thơ thể hiện rõ nét chân dung tâm hồn và ý chí quật cường của người chí sĩ cách mạng. Sau khi đọc xong bài văn mẫu tìm hiểu về hình tượng chí sĩ yêu nước trong bài Chia tay khi ra nước ngoài, các em có thể tham khảo thêm một số bài văn mẫu lớp 11 khác như: Lý tưởng sống của Phan Bội Châu trong bài. Bài thơ Tiễn biệt dương thế, Cảm nhận bài thơ Tiễn biệt dương thế của Phan Bội Châu, Vẻ đẹp lãng mạn và hào hùng của nhân vật trữ tình trong bài thơ Tiễn biệt dương thế, Bình giảng bài thơ Tiễn biệt dương thế,…

Bản quyền bài viết thuộc về THPT Sóc Trăng.Edu.Vn. Mọi sao chép đều là gian lận!

Nguồn chia sẻ: thptsoctrang.edu.vn

Bạn thấy bài viết tìm hiểu hình tượng người chí sĩ yêu nước trong bài Lưu biệt khi xuất dương có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về tìm hiểu hình tượng người chí sĩ yêu nước trong bài Lưu biệt khi xuất dương bên dưới để Kênh Văn Hay có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: kenhvanhay.edu.vn của Kênh Văn Hay

Nhớ để nguồn bài viết này: tìm hiểu hình tượng người chí sĩ yêu nước trong bài Lưu biệt khi xuất dương của website kenhvanhay.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm bài viết hay:  Giới thiệu về Nguyễn Du (7 mẫu) - Ngữ văn lớp 9

Viết một bình luận