Soạn bài Vội vàng – Xuân Diệu – Soạn văn 11

Trường Tiểu Học Đằng Lâm

Updated on:

Soạn bài Vội vàng – Xuân Diệu – Soạn văn 11
Bạn đang xem: Soạn bài Vội vàng – Xuân Diệu – Soạn văn 11 tại Kênh Văn Hay

Câu 1. Bài thơ có thể chia làm mấy đoạn? Nêu ý chính của từng đoạn.

Hồi đáp:

Bài thơ có thể chia làm ba đoạn:

– Đoạn 1: (13 câu thơ đầu): Thể hiện tình yêu tha thiết với cuộc sống trần gian.

– Đoạn 2: (từ câu 14 đến câu 29): Nỗi trăn trở về sự ngắn ngủi của kiếp người trước sự trôi nhanh của thời gian.

– Đoạn 3: (Còn lại): Nỗi thôi thúc khẩn trương, vội vàng muốn tận hưởng những giây phút tuổi trẻ của mình trong mùa xuân của thế giới, của vũ trụ.

Câu 2. Cảm nhận của Xuân Diệu về thời gian như thế nào? Tại sao nhà thơ vội vàng, vội vàng trước sự trôi nhanh của thời gian?

Hồi đáp:

– Thời gian của tự nhiên luôn tuân theo quy luật vận động bất biến. Nhưng quan niệm về thời gian, cách nhìn nhận về thời gian, ở mỗi thời đại và ở mỗi cá nhân có thể có những nét khác nhau:

+ Thơ Xuân Diệu và đặc biệt là Vội vàng, Xuân Diệu đã đưa ra một quan niệm mới, một cảm nhận mới về thời gian. Nếu như các nhà thơ trung đại quan niệm thời gian là tuần hoàn, vĩnh hằng thì Xuân Diệu nhờ tri thức khoa học về thời đại và ảnh hưởng của văn hóa phương Tây đã nhìn nhận thời gian vận động theo tuyến tính, từng bước một. không trở lại.

+ Thời gian quả là khắc nghiệt, đời người thì có hạn, tuổi trẻ thì ngắn ngủi.

Trên thực tế, từ xa xưa, nhiều nhà thơ đã than thở về sự ngắn ngủi của đời người. Người ta gọi kiếp người là “phù du” hay “câu bóng qua cửa sổ”,… Nhưng vì xuất phát từ cái nhìn tĩnh tại, siêu hình, lấy sự sống vũ trụ làm thước đo thời gian nên được khái niệm hóa. Thời gian là tuần hoàn. Lúc bấy giờ tư hữu chưa tách khỏi cộng đồng, con người còn gắn bó với vũ trụ nên người ta vẫn cho rằng người chết chưa hẳn đã không còn gì mà còn có thể với cộng đồng, với thế giới và trái đất. lưu hành. Vì vậy, nhân vật trữ tình trong thơ trung đại thường ở tư thế thoải mái, điềm tĩnh, điềm tĩnh, ít hấp tấp, vội vàng “sống vội”.

+ Đến thế hệ các nhà thơ mới, khi ý thức tư nhân trỗi dậy mạnh mẽ thì quan niệm thời gian trên hoàn toàn bị phá bỏ. Xuân Diệu đã đưa ra một quan niệm mới, đối lập với quan niệm thời gian tuần hoàn của người xưa. Với Hoàng đế Xuân Diệu, thời gian là tuyến tính, một đi không trở lại. Vũ trụ không ngừng chuyển động, thời gian luôn trôi chảy, mỗi khoảnh khắc trôi qua là mất đi mãi mãi. Khái niệm này xuất phát từ một quan điểm năng động, rất biện chứng về vũ trụ và thời gian:

Mùa xuân đang đến, tức là mùa xuân đang qua đi,

Xuân còn trẻ nghĩa là xuân sẽ già.

+ Nhà thơ đã lấy quỹ thời gian hữu hạn của đời người, thậm chí lấy cả thời gian quý báu nhất của tuổi xanh của mỗi cá nhân để làm thước đo thời gian. Bài thơ được kết cấu thành một cuộc tranh luận, trong đó nhà thơ khẳng định rằng tuy vũ trụ có thể trường tồn, thời gian có thể tuần hoàn nhưng “tuổi xanh không trở lại hai lần”:

Khi mùa xuân kết thúc, điều đó có nghĩa là tôi cũng sẽ chết.

Lòng tôi rộng mà trời chật,

Đừng kéo dài tuổi trẻ của thế giới,

Làm sao nói xuân vẫn tuần hoàn,

nếu tuổi xanh không hai lần nhen nhóm!

Có trời có đất, nhưng vĩnh viễn không có ta,

Thật buồn, tôi cảm thấy tiếc cho cả thế giới.

+ Nhìn thấu dòng thời gian trôi nhanh quá, thời gian không quay trở lại nên cảm nhận của Xuân Diệu về thời gian đầy mất mát, mỗi khoảnh khắc trôi qua là một sự mất mát, chia ly: “Mùi tháng năm đượm mùi chia ly. – Khắp sông núi ta vẫn thầm tiễn biệt Vạn vật trong vũ trụ đang từng giây, từng phút cay đắng chia tay, tiễn biệt một phận đời mình:

Gió đẹp thì thầm trong lá xanh,

Bạn đang tức giận vì bạn phải bay đi?

Tiếng chim rộn ràng chợt ngừng hót,

Lo sợ về sự diệt vong sắp xảy ra?

=> Cảm nhận của Xuân Diệu về thời gian suy cho cùng là do ý thức sâu sắc về cái “tôi” cá nhân, về sự tồn tại có ý nghĩa của mỗi cá nhân trên đời, nâng niu, trân trọng từng giây, từng phút trên đời, nhất là những năm tháng xanh tươi. . Trong hoàn cảnh bình thường của đất nước, đây là một quan niệm, thái độ sống tích cực, thấm nhuần tư tưởng nhân văn.

Câu 3. Hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống quen thuộc được tác giả cảm nhận và miêu tả như thế nào? Hãy chỉ ra những nét mới trong quan niệm sống, tuổi xanh và hạnh phúc của Xuân Diệu.

Hồi đáp:

– Xuân Diệu đã phát hiện ra rằng có một thiên đường ngay trên trái đất này, không xa lạ mà rất quen thuộc, ngay trong tầm tay của mỗi chúng ta. Hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống thân thuộc hiện lên qua cái nhìn và cảm nhận độc đáo của nhà thơ. Hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống được Xuân Diệu gợi lên vừa gần gũi, thân quen, vừa quyến rũ, chan chứa tình yêu. Nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó một tình yêu rộn ràng, nồng nàn, ngây ngất:

Con ong mật của con bướm này dành hàng tuần và hàng tháng để làm mật

Đây là những bông hoa của những cánh đồng xanh

Kìa cành lá rung rinh

Của tổ chim này, đây là một bản tình ca

Và kìa, ánh sáng nhấp nháy,

Mỗi sớm mai thần Vui Vẻ gõ cửa

Tháng giêng ngon như đôi môi.

– Hình ảnh thiên nhiên, cuộc đời qua cảm nhận của Xuân Diệu như đã nói vẫn nhuốm màu chia ly, mất mát: “Mùi tháng năm nồng mùi chia ly. […] – Bạn có sợ sự diệt vong sắp xảy ra không?

=> Đây là hình ảnh thiên nhiên và cuộc sống được cảm nhận qua lăng kính thời gian, thời gian trôi nhanh, một đi không trở lại.

– Nét mới trong quan niệm sống, tuổi xanh và hạnh phúc của Xuân Diệu:

+ Lấy con người làm chuẩn mực cho thiên nhiên, đề cập đến thiên nhiên trên vẻ đẹp của những mỹ nhân: “Còn đây ánh chớp bên mi”, “Tháng giêng ngon như đôi môi sắp hé”, “Ô xuân hồng, ta muốn cắn ngươi!” Đây là một cách nhìn rất mới, rất Xuân Diệu.

+ Đối với Xuân Diệu, thế gian này đẹp nhất, đẹp mê hồn nhất vì có những con người giữa tuổi xanh và tình yêu. Quãng thời gian quý giá nhất của cuộc đời mỗi người là tuổi xanh, và hạnh phúc lớn nhất của tuổi xanh là tình yêu. Đó là một quan niệm mới, tích cực, thấm đượm ý nghĩa nhân văn.

Câu 4. Nhận xét về đặc điểm hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu khổ thơ cuối bài thơ. Hình ảnh nào nhà thơ đã sáng tạo mà em cho là mới lạ và độc đáo nhất?

Hồi đáp:

Những hình ảnh trong câu thơ cuối gần gũi, thân thuộc mà tươi mới, tràn đầy sức sống, đầy sức quyến rũ và yêu thương. Đây là những hình ảnh hết sức táo bạo, gợi cảm và khêu gợi.

– Ngôn ngữ bài thơ tự nhiên, gần gũi với lời nói đời thường nhưng đã được nâng lên thành nghệ thuật. Cảm xúc dồi dào, mãnh liệt đã tạo nên những làn sóng ngôn từ vừa đan xen, vừa cộng hưởng với nhau theo chiều tăng dần. Tác giả sử dụng những động từ dồn dập, mạnh mẽ tăng tiến chỉ những chuyển động cuồng nhiệt; nhiều danh từ chỉ vẻ đẹp của tuổi trẻ, sự tươi tắn; nhiều tính từ chỉ sắc xuân; nhiều câu ám chỉ, điệp cú pháp có tác dụng nhấn mạnh ý.

– Nhịp thơ dồn dập, hào hứng, đầy gợi tả, thiết tha.

Bản quyền bài viết thuộc về THPT Sóc Trăng.Edu.Vn. Mọi sao chép đều là gian lận!

Nguồn chia sẻ: thptsoctrang.edu.vn

Bạn thấy bài viết Soạn bài Vội vàng – Xuân Diệu – Soạn văn 11 có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Soạn bài Vội vàng – Xuân Diệu – Soạn văn 11 bên dưới để Kênh Văn Hay có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: kenhvanhay.edu.vn của Kênh Văn Hay

Nhớ để nguồn bài viết này: Soạn bài Vội vàng – Xuân Diệu – Soạn văn 11 của website kenhvanhay.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm bài viết hay:  Top 50 Thuyết minh về Vịnh Hạ Long (hay nhất)

Viết một bình luận