Soạn bài Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn – Soạn văn 8

Trường Tiểu Học Đằng Lâm

Updated on:

Soạn bài Bác ơi!
					     – Soạn văn 12
Bạn đang xem: Soạn bài Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn
– Soạn văn 8
tại Kênh Văn Hay

LỊCH SỬ sẽ

(Trần Quốc Tuấn)

Các bạn đang xem: Soạn Hịch Tướng Sĩ – Trần Quốc Tuấn – Soạn Văn 8

I. TÁC GIẢ VÀ NGHỆ SĨ

1. Tác giả

Trần Quốc Tuấn (1231 – 1300), tức Hưng Đạo Vương là một danh tướng kiệt xuất của dân tộc. Năm 1285 và 1287, quân Mông – Nguyên sang xâm lược nước ta, lần nào ông cũng được Trần Nhân Tông cử thân chinh cầm quân ra trận, cả hai lần đều thu được thắng lợi lớn. Dưới thời Trần Anh Tông, ông đóng quân ở Vạn Kiếp (nay là xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) và mất ở đó. Nhân dân suy tôn ông là Đức Thánh Trần và lập đền thờ ở nhiều nơi trong cả nước.

2. Thể loại

Đó là một hình thức cổ xưa mà các tướng lĩnh, vua chúa hoặc người đứng đầu một tổ chức, một phong trào dùng để kêu gọi nhân dân hăng hái chiến đấu tiêu diệt kẻ thù.

Bài thơ tiêu biểu và có giá trị nhất trong nền văn học Việt Nam là Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo (thế kỷ XIII). Trong thời kỳ Pháp xâm lược nước ta (nửa sau thế kỷ 19), nhiều hịch Nôm đã xuất hiện và được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân (như Hịch đánh Tây của Lãnh Cố, Hịch đánh chuột của Nguyễn Đình Chiểu…).

Hịch thường được viết theo thể tứ tuyệt, có khi bằng văn xuôi hoặc thơ lục bát.

Một bài văn thường gồm 3 phần chính:

Phần một: nêu một nguyên tắc đạo đức hoặc chính trị làm nền tảng cho hệ tư tưởng và lý thuyết.

Phần giữa: nêu sự việc đáng chú ý (thường là đối với kẻ thù).

Phần cuối: nêu giải pháp và lời kêu gọi chiến đấu. Sau khi viết hịch thường được đặt vào bộ hịch và được sứ giả truyền đi khắp nơi. Nếu khẩn thường có một chùm lông gà ở đầu vòi (do đó có tên Vũ). (Theo Từ điển thuật ngữ văn học, NXB , 1992).

3. Tác phẩm

Vào nửa cuối thế kỷ XIII, chỉ trong ba mươi năm (1257 – 1287), quân Mông – Nguyên đã ba lần kéo quân sang xâm lược nước ta. Thế giặc lúc bấy giờ rất mạnh, muốn tiêu diệt được chúng phải được sự đồng tình, ủng hộ của toàn quân và dân. Trần Quốc Tuấn viết bài văn sâu sắc này để kêu gọi tướng sĩ một lòng đánh giặc.

Để thu hút lòng người, người viết có thể dùng nhiều cách khác nhau. Có khi chỉ cần khơi dậy hiện thực, khơi gợi truyền thống yêu nước, căm thù giặc… Ở bài viết này, Trần Quốc Tuấn đã sử dụng giọng điệu và lối hành văn rất phong phú. Có lúc ông lấy ví dụ của người xưa, có lúc ông dùng cách “khái tướng”, có lúc an ủi, vỗ về đối tượng… Đó là cái hay, cái độc đáo của tác phẩm này.

II. TRẢ LỜI CÂU HỎI

1. Bài bố cục thành 4 đoạn:

– Đoạn 1 (từ đầu đến cuối “tiếng lành đồn xa”): Tác giả nêu ra những tấm gương “trung dũng, nghĩa sĩ, hi sinh vì nước” đã được lưu truyền trong sử sách để động viên nhân dân.

– Đoạn 2 (từ “Ít biết bao” đến “Ta sung sướng biết bao”): từ việc vạch trần bộ mặt xấu xa của kẻ thù, tác giả bộc lộ lòng căm thù giặc sâu sắc.

– Đoạn 3 (từ “Ta ở bên em” đến “em không muốn hạnh phúc sao?”): từ việc khắc sâu tình cảm gắn bó giữa chủ và tướng, tác giả phân tích rõ hơn, được và mất, đúng sai của mỗi người. khác. với việc sửa chữa những sai lầm trong hàng ngũ người lính (từ “Mấy anh” đến “Muốn vui không?”) và đi đến đường hướng hành động đúng đắn, hứa hẹn tương lai (từ “Bây giờ tôi nói thật” đến “Anh không muốn à?” chúc vui vẻ?”).

– Đoạn 4 (từ “Bây giờ ta chọn phương án binh” đến hết): nêu những việc làm trước mắt và kết thúc bằng những lời động viên chiến sĩ.

2. Tác giả miêu tả sự ngang ngược và tội ác của kẻ thù:

“Thấy sứ giặc qua đường, cúi diều vào triều, bắt dê bắt cha, trái lệnh Hốt Tất Liệt đòi lụa ngọc, để thỏa mãn lòng tham vô đáy. Thương hiệu Vân Nam Vương sưu tầm vàng bạc, mua hàng hạn chế. Chẳng khác nào cho hổ đói ăn thịt, để sau này không xảy ra tai họa!”

– Bộ mặt của kẻ thù được phơi bày qua các sự kiện có thật: khệnh khạng, mắng triều đình, ức hiếp tể tướng, xin ngọc lụa, thu vàng bạc, cướp kho hạn…

– Để miêu tả tội ác ngang ngược, tham lam của giặc, đồng thời thể hiện sự căm ghét, khinh bỉ tột độ, tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh, ẩn dụ:

+ Hình ảnh quân giặc: lưỡi cú diều, xác chó, dê, hổ đói,…

+ Những hình ảnh được đặt trong thế tương phản thể hiện sự căm ghét, khinh miệt: uốn lưỡi diều hâu – mắng triều đình, đội lốt chó dê – bắt nạt cha.

– Tố cáo tội ác của giặc, tác giả đã khơi dậy niềm tự hào dân tộc và khắc sâu lòng căm thù giặc ngoại xâm ở các tướng sĩ.

3. Sau khi tố cáo tội ác của giặc, Trần Quốc Tuấn đã bày tỏ lòng yêu nước, căm thù giặc, có thể coi đây là đoạn hay nhất của bài thơ: “Nửa đêm quên ăn, vỗ gối và làm đau dạ dày của tôi”. Lòng tôi như cắt, nước mắt tuôn trào, Chỉ hận chưa xẻ thịt, lột da, nuốt gan uống máu quân thù, Dù trăm xác phơi cỏ, ngàn xác bọc da ngựa, tôi sẽ hài lòng.”

– Nỗi đau mất nước được diễn tả đau đớn: quên ăn, mất ngủ, lòng đau như dao cắt, nước mắt chảy dài. Lòng căm phẫn dâng lên tột độ khi tác giả bày tỏ thái độ với kẻ thù: chỉ có căm giận mới không tàn sát, lột da, nuốt gan uống máu quân thù.

– Đại tướng đã xác định cho mình một tinh thần xả thân vì nước: Dù trăm xác phơi cỏ, nghìn xác bọc da ngựa, ta cũng bằng lòng.

– Qua đoạn văn này, hình ảnh người anh hùng yêu nước sẵn sàng xả thân vì nước được khắc họa rõ nét. Những lời tâm huyết, gan ruột của vị tướng có sức rung động mạnh mẽ, thấm nhuần trong họ lòng yêu nước nồng nàn, lòng căm thù giặc sục sôi và một thái độ xả thân, chấp nhận hy sinh vì nước vì làng. .

4. Sau khi nói rõ tình thân giữa chủ soái và tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn đã phê phán những việc làm sai trái của tướng sĩ và khẳng định những việc cần làm để đánh thức tinh thần trách nhiệm và tầm nhìn của ông. bản thân. để điều chỉnh suy nghĩ và hành động của chính mình.

Khi phê phán hay khẳng định, tác giả tập trung nêu cao tinh thần cảnh giác, rèn luyện để chiến thắng kẻ xâm lược. Bởi lẽ, bài học này tuy trực tiếp nhằm khuyến khích sĩ tử nghiên cứu cuốn Quân trình do chính Trần Quốc Tuấn biên soạn, nhưng mục đích cao nhất là kêu gọi lòng yêu nước quyết đánh tan giặc ngoại xâm. .

5. Trong bài thơ, tiếng nói có khi là tiếng nói của chủ soái và các tướng lĩnh dưới quyền, có khi là của những người cùng cảnh ngộ (xét cho cùng, nguyên soái hay tướng sĩ khi nước lâm nguy đều như nhau). . tình huống) :

– Khi muốn bày tỏ thêm tình cảm hay lời khuyên, tác giả dùng giọng văn gần gũi, chân thành của người cùng cảnh ngộ: “Ta ở cùng ngươi đã lâu, canh giữ binh quyền, (…) nơi trận mạc, nơi sa trường. Cùng chết ở trường, cùng cười ở nhà”, “Lúc đó anh sẽ bị bắt với em, đau đớn biết bao! Thái ấp của tôi không còn nữa và các đặc quyền của bạn cũng không còn nữa; Chẳng những nhà ta diệt vong mà vợ con ngươi cũng khổ; Không chỉ cộng đồng của tổ tiên chúng tôi bị chà đạp, mồ mả của cha mẹ cũng bị nhổ bật gốc…”

– Khi nghiêm khắc khiển trách, cảnh cáo trước những việc làm sai trái, thái độ thờ ơ, vô trách nhiệm của tướng lĩnh, quân lính trước vận mệnh đất nước, tác giả thẳng thắn đưa ra những lời lẽ gay gắt, như mắng: “Đồ vô lại”, “Đồ vô lại”. xấu hổ”, “không giận”, “không hận”… Thực ra, người nhà của ông như Dã Tượng, Yết Kiêu, khách như Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lâm, Trịnh Du, Ngô Sĩ Thường , Nguyễn Thế Trực… đều là những người trung nghĩa, trung nghĩa là nét nổi bật của tinh thần Đông A (tức nhà Trần) nên lượng người cầu an, cầu phúc vẫn còn nhưng chắc hẳn Trần Quốc Tuấn đã dùng bùa chú. chọc giận tướng sĩ, chọc tức nhục nhã, đặt họ vào thế xấu hổ, hổ thẹn, giận dữ…, biết căm thù, phối hợp với tướng đánh giặc.” (Trần Đình Sử)

– Dù là lời khuyên răn phơi bày thêm sự thật hay lời cảnh cáo nghiêm khắc thì cũng nhằm khơi dậy tinh thần trách nhiệm nghĩa vụ của tướng sĩ đối với thành Xã Tắc, tất cả đều hướng tới mục tiêu kêu gọi đoàn kết. . ra sức tiêu diệt quân xâm lược, đối phó với kẻ thù.

6. Một số nét nghệ thuật đã tạo nên sức thuyết phục của bài Hịch tướng sĩ.

– Phương pháp so sánh – tương phản: đoạn 2,3

– Phương pháp nhân bản – tiến độ; kết hợp với các biện pháp so sánh- đối lập, điệp ngữ, điệp ngữ, ám chỉ, ám chỉ được sử dụng triệt để tạo âm hưởng cho bài, đồng thời gợi và in sâu vào tâm trí người đọc (đoạn 3).

7*. Hịch tướng sĩ là áng văn chính luận đặc sắc, với lối thơ lay động lòng người.

Với kết cấu chặt chẽ, tác phẩm thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và cảm xúc, lí lẽ và hình ảnh, dẫn chứng thuyết phục.

Bản quyền bài viết thuộc về Kênh Văn Hay.Edu.Vn. Mọi sao chép đều là gian lận! Nguồn chia sẻ: kenhvanhay.edu.vn TagsComposer 8

Bạn thấy bài viết Soạn bài Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn
– Soạn văn 8
có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Soạn bài Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn
– Soạn văn 8 bên dưới để Kênh Văn Hay có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: kenhvanhay.edu.vn của Kênh Văn Hay
Nhớ để nguồn bài viết này: Soạn bài Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn
– Soạn văn 8
của website kenhvanhay.edu.vn

Xem thêm bài viết hay:  Cách sơ cứu trẻ bị hóc thức ăn cha mẹ cần biết

Viết một bình luận