Phân tích bài thơ Khe chim kêu của Vương Duy hay nhất – Ngữ văn lớp 10

Trường Tiểu Học Đằng Lâm

Updated on:

Phân tích bài thơ Khe chim kêu của Vương Duy hay nhất – Ngữ văn lớp 10
Bạn đang xem: Phân tích bài thơ Khe chim kêu của Vương Duy hay nhất – Ngữ văn lớp 10 tại Kênh Văn Hay

Đề bài: Phân tích bài thơ “Tiếng chim gọi” của Vương Duy.

Vương Duy (701 – 761), tự Mạc, quê ở đất Kỳ, Thái Nguyên (nay là huyện Kỳ, tỉnh Sơn Tây). Năm Khai Nguyên thứ 9 (721), ông thi đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ, được phong làm Đại Nhạc (có tài liệu ghi là Thái Nhạc). Tuy từng bị chế giễu nhưng nhìn chung, quan trường của Vương Duy tương đối thuận hòa. Trong những năm Thiên Bảo sống cuộc đời bán quan bán nương. Loạn An – Sử, Huyền Tông chạy vào đất Thục, Vương Duy trở tay không kịp, bị An Lộc Sơn bắt, buộc làm quan với triều đình bù nhìn. Sau khi thu phục Trường An, Vương Duy bị kết tội, nhờ anh trai là Vương Tấn xin bãi quan để chuộc tội, Vương Duy được ân xá và giáng làm Thái tử Trung Doãn. Năm 761, ông lâm bệnh khi đang giữ chức Thượng thư.

Vương Duy là một nhà thơ thuần thành Phật giáo, từng học Thiền tông với Thiền sư Đạo Quang, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Thiền tông. Thơ ông mang đậm âm hưởng thiền nên người ta gọi ông là Thị Phật. Thơ Vương Duy có nội dung phong phú, ông thành công ở nhiều đề tài nhưng thành tựu nổi bật nhất là thơ sơn thủy. (Vương Duy và Mạnh Hạo Nhiên là đại biểu của trường thơ thời Thịnh Đường.) Thơ Vương Duy hiện còn 417 bài, phong cách tao nhã điêu luyện tiêu biểu của thơ Thịnh Đường, thơ ông đích thực là Văn Tông của thời Thịnh Đường. thời đại được Đường Đại Tông ca tụng.

Wang Wei là người am hiểu nhiều môn nghệ thuật, ông không chỉ là nhà thơ kiệt xuất mà còn là nhạc sĩ, nhà thư pháp và họa sĩ nổi tiếng của Trung Quốc. Nhà thơ nổi tiếng đời Tống Tô Đông Pha có nói: Đọc thơ Mã Xán, trong thơ có tranh, xem tranh Mã Xán, trong tranh có thơ.

Tính giản dị thể hiện đặc trưng cơ bản của thơ Đường

LOẠI ĐƠN GIẢN (Tiếng chim gáy kêu)

Chính tả:

Người hoa quế lạc,

Ừ, xuân sơn thì không.

Trăng ra khỏi núi

Thời gian trong thời trung cổ.

Dịch:

Người thảnh thơi, tranh quế rơi,

Đèn im lìm, xuân vắng.

Trăng lên làm chim núi giật mình,

Thỉnh thoảng có tiếng kêu trong lạch.

Dịch thơ:

Hoa quế thơm thoang thoảng rơi,

Một đêm xuân yên ả trên đồi vắng.

Trăng lên, chim núi giật mình,

Tiếng kêu chói tai xuyên thẳng qua kẽ hở của ngọn đồi.

(Ngô Tất Tố dịch)

Người nhàn nhã hoa quế rơi,

Đêm xuân hoang vắng.

Trăng lên, chim núi sợ hãi,

Dưới khe hở kêu lên.

(Tương tự dịch)

Vẻ đẹp thanh bình của đêm xuân nơi núi vắng được thể hiện qua bút pháp tiêu biểu của Đường Thi: động để diễn tĩnh. Từ hoa rơi đến trăng lên, tiếng chim núi gọi suối giật mình, khung cảnh nào cũng băng giá nhưng lại là một hang động vô cùng tĩnh mịch, huyền ảo. Qua những động tác nhẹ nhàng ấy, có thể thấy con người nhàn nhã, đêm thanh, núi vắng. Đó là mối quan hệ biện chứng giữa động và tĩnh.

Cành quế tươi tốt mà hoa quế rất nhỏ, nhưng nghe tiếng hoa quế rơi, rõ là người nhàn nhã, đêm thanh vắng, trăng lên không tiếng mà chim núi giật mình, mới biết rằng trong khoảng lặng đến một thay đổi nhỏ cũng khuấy động sự tĩnh lặng. Sau vài tiếng chim hót líu lo, núi xuân càng vắng lặng. Lấy động để nói tĩnh, lấy hữu thanh để truyền vô thanh, đó là thủ pháp độc đáo trong thơ sông núi nước Thi Phất Vương Duy. Cách diễn đạt ấy không chỉ làm cho người ta cảm nhận được cái tĩnh lặng, cái âm u của đêm xuân thanh vắng, mà còn làm cho cảnh vật không quá tĩnh mịch mà rất trẻ trung, vừa trong trẻo – tĩnh lặng, vừa trong trẻo. Sở dĩ đạt được điều đó là do tâm hồn con người cũng thực sự thanh thản, có sự hài hòa giữa tâm và cảnh.

Âm thanh tinh tế của đêm làm xao động tâm hồn yên bình, đó cũng là bóng dáng của một thời thanh bình. Kỷ nguyên hòa bình làm cho thiên nhiên, cảnh vật, con người đều thanh tịnh, an lạc, và những tiện nghi tuyệt vời – tất cả đều có một chốn bình yên của riêng mình. Bản hòa ca của sự im lặng ấy, hơn một nghìn năm sau, lại được đại thi hào Tago diễn tả: Tôi đã nhúng trái tim mình vào khoảng lặng này, nó chứa chan tình yêu.

Bài thơ thể hiện những đặc điểm cơ bản của thơ Đường, khiến cho bước vào thế giới nghệ thuật của thơ Đường là bước vào thế giới của sự hài hòa.

Xem thêm các bài văn mẫu phân tích và lập dàn ý tác phẩm lớp 10:

Các bài giải bài tập lớp 10 sách mới:

khe-chim-keu.jsp

Giải bài tập lớp 10 theo sách mới môn học

Bạn thấy bài viết Phân tích bài thơ Khe chim kêu của Vương Duy hay nhất – Ngữ văn lớp 10 có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Phân tích bài thơ Khe chim kêu của Vương Duy hay nhất – Ngữ văn lớp 10 bên dưới để Kênh Văn Hay có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: kenhvanhay.edu.vn của Kênh Văn Hay

Nhớ để nguồn bài viết này: Phân tích bài thơ Khe chim kêu của Vương Duy hay nhất – Ngữ văn lớp 10 của website kenhvanhay.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm bài viết hay:  Tả cảnh dòng sông Hàn (Đà Nẵng)

Viết một bình luận