Phân tích bài thơ Bài ca lưu biệt của Huỳnh Thúc Kháng

Trường Tiểu Học Đằng Lâm

Updated on:

Phân tích bài thơ Bài ca lưu biệt của Huỳnh Thúc Kháng
Bạn đang xem: Phân tích bài thơ Bài ca lưu biệt của Huỳnh Thúc Kháng tại Kênh Văn Hay

Đề bài: Phân tích bài thơ “Tiễn biệt ca” của Huỳnh Thúc Kháng.

Huỳnh Thúc Kháng (1875-1947) đỗ tiến sĩ dưới triều Nguyễn, không làm quan. Văn chương kiệt xuất, khí chất trong sáng, giàu lòng yêu nước thương dân, cả đời hy sinh phấn đấu cho độc lập tự do của dân tộc. Ông là một trong những thủ lĩnh của phong trào Duy tân, tự lực cánh sinh đầu thế kỷ XX ở Trung Bộ. Năm 1908, ông bị thực dân Pháp kết án “tạm giam”, sau đổi thành tù chung thân, đày ra Côn Đảo. Hơn 13 năm bị đày ải trong địa ngục trần gian, năm 1921, Người đã giành được tự do. Ông trở lại Huế, làm Ủy viên Ban Chấp hành Quốc hội Trung ương, rồi làm chủ bút tờ báo Tiếng nói Nhân dân nổi tiếng trong nước. Cách mạng Tháng Tám thành công theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh , Huỳnh Thúc Kháng. được cử làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có lúc giữ Quyền Chủ tịch nước. Năm 1947, vào thăm miền Trung, ông mất tại Quảng Ngãi, thọ 72 tuổi.

Huỳnh Thúc Kháng là một nhà thơ yêu nước. Ông để lại cho đời nhiều thơ phú bằng chữ Nôm và chữ Hán. Năm 1908, trước khi từ biệt các đồng chí trong tù và bị đày ra Côn Đảo, Người đã viết bài thơ “Bài ca vĩnh biệt”. Bài thơ được viết theo thể hát nói, có một số câu thơ chữ Hán tạo nên phong cách trang trọng, hào hùng.

Hai câu đầu song đối, đối xứng đưa ra nhận xét về quy luật của tự nhiên và cuộc sống:

“Trăng trên trời có lúc tròn lúc khuyết,

Con người trên thế giới này không tránh khỏi những khó khăn.”

Trăng khuyết rồi khuyết – một ý thơ xuất phát từ quan niệm “trời tròn đất tròn” nghĩa là trời đất xoay vần, hết tròn này đến tròn khác. Cũng giống như cuộc sống của mỗi người từ “an toàn” đến “nguy hiểm”. Sông có khúc, người có lúc nên ai cũng không thoát khỏi vòng lao đao, gian khổ và hiểm nguy. Trăng “lang thang” cũng giống như con người gặp “gian khó” như một lẽ tất yếu và bình thường. Hai câu thơ thể hiện cái nhìn trong sáng, bình thản trước mọi tai ương của cuộc đời.

Hai câu thơ tiếp theo diễn tả thái độ của người đàn ông trước mọi biến cố và thử thách:

“Người đàn ông vâng lời con trai mình

Tố cáo hoạn nạn phiền não”.

Bậc trượng phu là người có tài và dũng khí trong xã hội phong kiến. Hai chữ Hán có nghĩa là: Người đàn ông gặp việc gì cũng xử lý được. Luôn chủ động, làm chủ tình thế, làm chủ thế thái bình, lừa lọc, hoạn nạn trên đường đời. Khi gặp hoàn cảnh hoạn nạn, họ sẽ xử lý một cách cương quyết, quyết không bỏ cuộc, đầu hàng trước hoạn nạn, thử thách. Hai câu thơ bằng chữ Hán hiện lên một cách sáng tạo, làm nổi bật ý chí kiên định và tư thế đàng hoàng của một kẻ sĩ chân chính trước những thử thách khốc liệt. Nếu đặt bài thơ vào một tình huống cụ thể mới thấy được bản lĩnh phi thường của chí sĩ cách mạng Huỳnh Thúc Kháng. Mới hôm bị kết án “tử hình, tù đày”, nay bị đày ra Côn Đảo với mức án “khổ sai chung thân”, nhưng với ông già nào thì chẳng là gì, vì “tố giác gian nan”! Có thể nói, màu sắc cổ điển và tính cách của người chiến sĩ được thể hiện rất đẹp qua khổ thơ đầu của bài ca dao này.

Giữa đau thương sáng lên một niềm tin và niềm tự hào về con đường cách mạng của mình, về phẩm hạnh của người chiến sĩ yêu nước: “Đường đã định trước mắt – Tiêu do mộng vương” – Con đường trước mặt, biết rằng bầu trời vẫn đang theo dõi. Con đường phía trước còn nhiều chông gai, tù tội, nhưng là con đường sáng, con đường sự nghiệp chân chính, rồi ông trời sẽ soi cho con, dù thế nào con cũng được trở về nhà đoàn tụ với gia đình. Tin trời có mắt là cách nói, cách nghĩ, cách cảm của dân gian; Tin rằng hành động của một người là đúng đắn và hợp đạo đức là niềm tin chính đáng:

“Bao năm rồi vẫn chưa già,

Đây núi Indus, đây sông Đà

Dòng sông ấy vẫn đợi ta dệt nên.

Với bản án chung thân khổ sai và câu nói “Mấy năm rồi mà vẫn chưa già”, cách nói đó là sự ngang ngược, ngạo mạn bất khuất. Núi Ấn Sơn hay còn gọi là núi Chùa hay núi Mộ Kiều, sông Đà tức là sông Cẩm Lệ, là hai cảnh đẹp của Quảng Nam – Đà Nẵng, quê hương thân yêu của nhà thơ. Sông núi gắn với bao yêu thương đợi chờ. Huỳnh Thúc Kháng tin chắc rằng một ngày không xa ông sẽ trở về quê tổ, đem tài năng của mình góp phần “dệt dệt”, tôn tạo, tôn tạo quê hương. Trong niềm tin có một tình yêu sâu đậm. Trong lòng tự hào có tấm lòng thủy chung gắn bó với quê hương. Chữ “ta” vang lên đĩnh đạc, kiêu hãnh thể hiện khí chất anh hùng của một kẻ sĩ chân chính: “Non sông ta vẫn chờ ta dệt”.

Khổ thơ này nói về “tụ” và “tản”, về “đau” và “phúc” ở đời:

“Kìa, cuộc hội ngộ chẳng là gì ngoài một lời chia tay nhỏ

Bạn biết về Tai Horse từ đâu?”

Câu trên là câu phủ định của câu khẳng định. “Tụ” là đoàn kết, “tán” là phân tán. “Tụ tán” có nghĩa là gặp gỡ rồi chia tay. Sau phong trào Duy Tân tự lực cánh sinh, nhiều chí sĩ yêu nước bị bắt, bị tù đày, bị chung xà lim, cùng ngục nên “tụ tập”, ngày nay bị đày ra Côn Đảo, người thì bị giam cầm khắp nơi. ngục tù đây đó, đó là “giải tán”, còn chỉ là “chia tay nhỏ”, nghĩa là chia tay tạm thời. Ý thơ đối lập đối lập giữa “tụ tập, tản mát” và “chia tay nhỏ bé” đã thể hiện một cách nhìn, một cách sống rất tỉnh táo, lạc quan giữa muôn vàn tai ương, gian khổ. Câu văn dưới đây, sử dụng cấu trúc câu thơ cổ điển “Thất mã, tài ông” dưới hình thức câu hỏi tu từ cũng thể hiện một niềm tin sáng ngời: bị tù đày chưa hẳn là “tai họa” mà có thể là “điềm lành” đối với người chí sĩ yêu nước. lòng dũng cảm, tấm lòng trung nghĩa với nước, hiếu với dân của ông! Một ý thơ đẹp, được thể hiện bằng câu thơ súc tích, giàu âm điệu, đó là câu “Bài ca chia tay”. Ba câu thơ tiếp theo còn thể hiện một tâm thế rất đẹp: tạo hóa (tạo vật) dù có cơ hội thế nào, dù an bài thế nào, dù đi đâu thì vẫn mãi là quê hương, đất nước. Chỉ biết rằng trong cuộc sống trăm năm, chúng ta cần:

“Một ngày nào đó, tôi sẽ làm một cây cầu

Bốn biển khắp trời đất

Người tu trăm năm đã ngã xuống.”

Câu thứ hai có nhiều câu chép sai. Không phải “trong trời đất” mà là “trong trời đất”. “Sky” gần giống nghĩa với “vòng tròn của bầu trời”; Chỉ có chữ “bầu” vần với chữ “cầu” ở trên. “Vần” là một trong những yếu tố nhạc tính hàng đầu trong thơ, đặc biệt là thơ nói. Câu thơ bằng chữ Hán: “Ưu trăm tu phải ngã” ta đã thấy trong bài thơ “Xuất hành” của Phan Bội Châu; điều đó cho thấy tâm hồn của hai nhà cách mạng lớn gặp nhau trong một tư tưởng lớn, đồng thời khẳng định vai trò của nhà Nho chân chính trước sứ mệnh lịch sử. Ở đời trăm năm cần em. Câu thơ như một bản tuyên ngôn, đĩnh đạc, hùng hồn. Các nhà văn cách mạng đầu thế kỷ XX như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… đã sống và hành động thật cao đẹp!

Ba câu thơ trong khổ thơ thể hiện khí chất của một người đàn ông trong cơn hoạn nạn:

“Cho dù núi lở, biển động, trời nghiêng, đất ngả,

Lòng vàng khắc đá chưa mòn,

Vầng trăng khuyết đó tròn.”

Hình ảnh thơ được đặt trong thế tương phản: “Dù… còn…”. “Núi lở, biển động, trời nghiêng, đất ngả” tượng trưng cho những biến cố dữ dội đó. Vẫn tinh khiết như “vàng”, vẫn cứng rắn như “đá” thì dù có chạm trổ hay đập phá cũng không bị hao mòn, không bị dập nát, biến dạng. Khí thế ấy, tinh thần bất khuất ấy là bản lĩnh phi thường của một lớp nho sĩ chân chính đầu thế kỷ. Họ đã để lại ba bài học lớn cho con cháu mai sau: “Của không nuôi nổi dục, hèn không dời được, uy không nâng được”. Đối với họ, quyền lực, bạo lực và khổ sai trong tù không đáng sợ:

“Thân còn, sự nghiệp còn.

Có bao nhiêu nguy hiểm để sợ?”.

Phan Bội Châu

(“Cảm nghĩ trong nhà ngục Quảng Đông”)

“Hầu như không cầu xin chủ nghĩa anh hùng”

(“Ơn Côn Lôn” – Phan Châu Trinh)

Nếu như đầu bài là câu “Trăng giữa trời có lúc tròn, có lúc khuyết” thì câu cuối là hình ảnh “Vầng trăng kia khuyết rồi lại tròn” như một niềm tin, một hi vọng đầy lạc quan. nghĩ. Trăng khuyết sẽ tròn, và cực sẽ kết thúc. Bị cầm tù và được giải thoát: Sáng ngời niềm tin. Thơ như vầng trăng sáng giữa trời đêm. Tin vào chính mình, tin vào con đường cách mạng, cứu dân, cứu nước, tin vào sức mạnh chính nghĩa của dân tộc.

Bài thơ của cụ Huỳnh tuy nói về lời từ biệt nhau nhưng cũng xứng đáng là một trường ca, một kiệt tác của thời đại. “Bài ca Giã từ” được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân miền Trung thời Pháp thuộc. Nó xứng đáng là bông hoa tươi trong vườn thơ yêu nước và cách mạng Việt Nam thế kỷ XX này. Giọng thơ hùng tráng. Một tinh thần quả cảm. Một sự lạc quan bất khuất. Trong tù không có điều kiện trau chuốt văn thơ, mà từ câu thơ chữ Hán đến truyện điển tích, từ chuyện hái lượm, họa phúc ở đời… đến chuyện “núi lở, biển lồi, trời nghiêng, đất ngả nên thơ”. . Liền mạch, thống nhất, đúng là xuất thành chương.

Hình ảnh người nhà báo hiện lên qua bài thơ thật đẹp, để lại cho người đọc, đặc biệt là các bạn trẻ sự kính trọng sâu sắc:

“Người vâng lời con trai được bình yên,

Tố cáo hoạn nạn phiền não”.

Giới thiệu về kênh Youtube

Các bộ đề lớp 12 khác

Bạn thấy bài viết Phân tích bài thơ Bài ca lưu biệt của Huỳnh Thúc Kháng có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Phân tích bài thơ Bài ca lưu biệt của Huỳnh Thúc Kháng bên dưới để Kênh Văn Hay có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: kenhvanhay.edu.vn của Kênh Văn Hay

Nhớ để nguồn bài viết này: Phân tích bài thơ Bài ca lưu biệt của Huỳnh Thúc Kháng của website kenhvanhay.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm bài viết hay:  Top 40 Tả đàn kiến đang tha mồi về tổ - Tập làm văn lớp 4

Viết một bình luận