Dàn ý tìm hiểu Hoàng Lê nhất thống chí

Trường Tiểu Học Đằng Lâm

Updated on:

Bạn đang xem: Dàn ý tìm hiểu Hoàng Lê nhất thống chí tại Kênh Văn Hay

Dàn ý tìm hiểu Hoàng Lê nhất thống chí – Tham khảo hướng dẫn lập dàn ý tìm hiểu tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí để nắm được bố cục của tác phẩm, hiểu được rõ hơn hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.

Dàn ýtìm hiểu Hoàng Lê nhất thống chí

I. Mở bài

– Giới thiệu khái quát những nét tiêu biểu nhất về nhóm tác giả Ngô gia văn phái: Đây là một nhóm tác giả thuộc dòng tộc Ngô Thì

– Giới thiệu về tiểu thuyết chương hồi Hoàng Lê nhất thống chí và đoạn trích: Đây là một tiểu thuyết khắc họa trung thực, đầy đủ những biến động xã hội trong một thời kì lịch sử của quốc gia, đoạn trích hồi thứ 14 đã đưa tới những khắc họa đặc sắc về hình tượng vua Quang Trung cùng sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh cùng số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống

II. Thân bài tìm hiểu hình ảnh vua Quang Trung cùng hình ảnh bọn bán nước, cướp nước

1. Hình tượng người anh hùng áo vải Quang Trung quả cảm, mạnh mẽ, trí tuệ và nhạy bén

a. Một người hành động mạnh mẽ, quyết đoán

– Nghe tin giặc chiếm Thăng Long mà không hề nao núng, đích thân cầm quân đi ngay

– Trong vòng hơn tháng, làm được rất nhiều việc lớn: “tế cáo trời đất”, lên ngôi và thân hành cầm quân ra Bắc

b. Một con người có trí tuệ sáng suốt và nhạy bén

– Trí tuệ sáng suốt và nhạy bén trong việc nhận định tình hình địch và ta

  • Quang Trung đã vạch rõ mưu mô và tội ác của quân thù xâm lược đối với nước ta: “mấy phen cướp bọc nước ta, làm thịt dân ta, vơ vét của cải”…
  • Khích lệ ý thức tướng sĩ dưới trướng bằng những tấm gương dũng cảm
  • Dự kiến được một số người Phù Lê có thể thay lòng đổi dạ nên có lời dụ với quân lính vừa chí tình vừa nghiêm khắc

– Trí tuệ sáng suốt và nhạy bén trong xét đoán bề tôi:

  • Trong dịp hội quân ở Tam Điệp ta thấy Quang Trung nhận định tình hình sáng suốt để đưa ra lời ngợi khen cho Sở và Lân
  • Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao sự “đa mưu túc trí”

=> sử dụng người sáng suốt

c. Một con người có tầm nhìn xa trông rộng và tài thao lược hơn người

– Tầm nhìn xa trông rộng:

  • Mới khởi binh những đã khẳng định “phương lược tiến đánh đã tính sẵn”
  • Đang ngồi trên lưng ngựa mà đã nói với Nhậm về quyết sách ngoại giao và kế hoạch 10 năm tới ta hòa bình.

– Tài thao lược hơn người thể hiện ở cuộc hành quân thần tốc mà đội quân vẫn chỉnh tề.

2. Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh, tình cảnh khốn quẫn của vua Lê Chiêu Thống

  • Hình ảnh Tôn Sĩ Nghị tự thị, tự mãn, chủ quan, kéo quân vào Thăng Long mà không phòng ngừa gì => Tướng bất tài.
  • Khi quân Tây Sơn đánh vào, “tướng sợ mất mật”, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp… chuồn trước qua cầu phao”
  • Quân sĩ xâm lược lúc lâm trận thì sợ hãi, xin ra hàng hoặc bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết….

=> Kể xen lẫn tả thực cụ thể, sống động, ngòi bút trình bày khách quan.

3. Số phận thảm bại của bọn vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân

  • Khi có biến, Lê Chiêu Thống vội vã “chạy bán sống bán chết”, cướp cả thuyền dân để qua sông, luôn mấy ngày không ăn, may có người thương tình đón về cho ăn và chỉ đường cho chạy trốn.
  • Đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị, vua tôi chỉ còn biết nhìn nhau thở than, oán giận chảy nước mắt
  • Sang Trung Quốc, vua phải cạo đầu, tết tóc, ăn mặc giống người Mãn Thanh và cuối cùng gửi gắm xương tàn nơi đất khách.

=> Số phận thế tất cho một người đứng đầu quốc gia nhưng lại bán nước hại dân.

III. Kết bài

  • Khái quát lại những nét đặc sắc về nghệ thuật làm nên thành công về nội dung của tiểu thuyết chương hồi: Cách kể chuyện trung thực, sinh động, khắc họa nhân vật rõ nét…
  • Liên hệ trình bày suy nghĩ bản thân về hình tượng Nguyễn Huệ, chân dung quân thù và vua quan Lê Chiêu Thống, từ đó đưa ra bài học nhận thức, hành động

Bài văn mẫu được đánh giá cao tìm hiểu Hoàng Lê nhất thống chí

Ngô gia văn phái là một nhóm những tác giả thuộc dòng tộc Ngô Thì. Sự nghiệp văn học của nhóm tác giả này vượt bậc và tiêu biểu nhất với Hoàng Lê nhất thống chí, cuốn lịch sử chương hồi nổi tiếng. Tác phẩm khái quát lại một giai đoạn, thời kì lịch sử với những biến cố đầy biến động từ khi chúa Trịnh Sâm lên ngôi tới khi Gia Long chiếm Bắc Hà.Hồi thứ mười bốn đã khắc họa một cách trung thực về sức mạnh, ý thức quật khởi của dân tộc ta trước cảnh thù trong giặc ngoài cùng với chiến công lừng lẫy của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ. Cuối năm 1788, đầu năm 1789, Lê Chiêu Thống đã kéo 29 vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị đứng đầu sang xâm chiếm nước ta. Ngày 22 tháng 11, Tôn Sĩ Nghị đã đóng chiếm được Thăng Long, tướng Ngô Văn Sở thoái lui về Tam Điệp để chống đỡ.

Trước hoàn cảnh đó, Nguyễn Huệ thể hiện như một người anh hùng của toàn thể dân tộc. Nguyễn Huệ đã lên ngôi hoàng đế vào ngày 25, “tế cáo đất trời cùng những non sông, thần núi” rồi đưa quân ra Bắc. Ông cũng tuyển chọn lựa những đội quân tinh nhuệ và có ý thức yêu nước, kháng chiến để tham gia đương đầu giữ gìn, bảo vệ quốc gia.

Ngày 30 tháng Một, Nguyễn Huệ mở tiệc thiết đãi quân nhân, dự kiến vào ngày mổng bảy thì vào thành để mở tiệc mừng. Có thể thấy rằng Nguyễn Huệ là một con người có hành động quyết đoán, mạnh mẽ, có tư duy lớn trong việc nhận diện tình hình của ta và của địch. Ông cũng là người nhìn xa trông rộng, biết địch biết ta, tài thao lược vô cùng tài giỏi. Những dự kiến trong cuộc kháng chiến được Nguyễn Huệ tiên lượng như một vị thần.

Trong kháng chiến, hình tượng người anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ hiện lên với tư thế, tầm vóc lớn lao, uy phong. Quân Thanh khi vừa thấy bóng vía nhà vua đã chạy toán loạn tới làng Hà Hồi, huyện Thượng Phúc, quân ta vây kín làng rồi bắc loa thông báo khiến quân Tanh “người nào nấy đều rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng, lương thực, vũ khí đều bị quân Nam lấy hết”; mùng 5 Tết tiến tới Ngọc Hồi, nhà vua đã sai quân lấy sáu chục tấm ván, ghép liền ba tấm làm một, lấy rơm nước phủ lại, cứ mười người một bức, lưng giắt dao ngắn, cùng với đó là hai mươi người cầm binh khí dàn thành chữ “nhất” tiến vào đồn.

Trước tình thế đó, mọi sự phản công của quân thù đều vô hiệu hóa. Quân Thanh đã tự hại mình khi sử dụng những súng ống phun khói làm cho quân ta lung lay, rối ren nhưng lại tự “gậy ông đập lưng ông” đối với chiến thuật này. Ngay ngay lập tức, Nguyễn Huệ đã sai đội quân khiêng ván vừa che vừa xông thẳng lên phía trước, gươm giáo chạm nhau thì vứt ván xuống đất, lấy dao ngắn mà chém. trận đại chiến kết thúc với hình ảnh “quân Thanh thây nằm đầy đống, máu chảy thành suối, quân Thanh đại bại”. Quang Trung cưỡi voi vào thành Thăng Long để phóng thích toàn dân tộc vào trưa ngày mùng 5 tết Kỷ Dậu.

Trước tình cảnh ấy, quân Thanh thua thảm hại khi mừng vui yến tiệc, không lo việc lớn. Việc tác giả trình bày cụ thể, chi tiết, sống động hình ảnh quân Thanh bị thua tan tác, chạy loạn đã thể hiện rõ sự thất bại tới thảm hại của quân Thanh. Hoàn toàn trái lại trước sự thua trận của quân Thanh, quân ta mạnh mẽ, như “tướng ở trên trời xuống, quân dưới đất chui lên”. Sự khắc họa về cảnh thua trận tới thảm hại của quân tướng nhà Thanh được Ngô gia văn phái trình bày rất rõ. Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, cứ nhằm hướng Bắc chạy. Sầm Nghi Đống thì thắt cổ tự tử, quân nhà Thanh đều “kinh hoàng, tan tác bỏ chạy” khắp nơi, tranh nhau xô đẩy xuống sông, giẫm đạp lên nhau mà chết. Lê Chiêu Thống cũng vội vã bỏ chạy, cướp thuyền để đi.

Đoạn trích Hồi thứ mười bốn của Hoàng Lê nhất thống chí là một đoạn trích đặc sắc, hay và độc đáo, vô cùng sinh động. Có rất nhiều những điểm nhấn về nghệ thuật đáng lưu ý trong đoạn trích, góp phần làm vượt bậc được nội dung câu chuyện. Giọng điệu lúc nhanh lúc chậm thể hiện sự biến đổi linh hoạt trong cách kể chuyện khiến người đọc như đang sống trong từng trang văn của cuộc kháng hào chiến đấu hùng do Quang Trung – Nguyễn Huệ thao lược. Cùng với đó là việc khắc họa hình tượng nhân vật với những nét vượt bậc, đặc sắc. Tướng vua tôi Lê Chiêu Thống cùng lũ quân Thanh đều thất bại thảm hại. Trong lúc đó, hình tượng người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ hiện lên với tư tưởng, tầm vóc hiên ngang, quật cường.

Đoạn trích “Hồi thứ mười bốn” của Hoàng Lê nhất thống chí cho ta thấy được những mưu mô tàn độc của quân xâm lược đối với dân tộc ta. Đoạn trích cũng cho ta thấy được vẻ đẹp của ý thức kết đoàn dân tộc và tài thao lược, mưu tính tuyệt vời của một con người kiệt xuất vua Quang Trung – Nguyễn Huệ.

Bài văn tìm hiểu hồi thứ 14 trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí hay nhất

Chuyện vua Quang Trung đại phá quân Thanh, ngày nay, hẳn chẳng mấy người nào còn không biết. Người dân Việt từ lâu đã từng thân thiết và tự hào với những cái tên Hà Nội, Ngọc Hồi, Khương Thượng, Đống Đa … Nhưng hình như không phải người nào cũng biết rằng, phần lớn những gì vẫn được truyền tụng về chiến công oai hùng đó lại không được lấy trực tiếp từ chính sử. Phải đâu người nào cũng tỏ tường rằng những hiểu biết lâu nay về sự kiện đại phá quân Thanh chính ra lại chứa đựng nhiều nhất trong một tác phẩm vẫn được coi là tiểu thuyết, cuốn sách mang tên Hoàng Lê Nhất Thống Chí của dòng tộc Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai (nay thuộc về Hà Nội, chứ không phải Hà Tây như nhiều sách đã ghi lầm). Quả thế, nếu như muốn được thở hít lại bầu không khí như của những tháng ngày có thắng lợi tưng bừng đó thì không gì hơn là cùng đọc lại Hồi thứ mười bốn trong thiên tiểu thuyết lịch sử của văn phái họ Ngô.

Thế nhưng trong chủ đích của người viết Hoàng Lê Nhất Thống Chí thì Hồi thứ mười bốn này được soạn ra không cốt để ngợi ca thắng lợi của Quang Trung. người nào còn hồ nghi xin đọc lại hai vế đối mở đầu, người làm sách, theo thường lệ của tiểu thuyết chương hồi, vẫn muốn từ đó để tự tóm tắt nội dung của toàn hồi truyện:

Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận

Bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài.

Rõ ràng, theo tác giả, đây là một đoạn truyện kể về vua Lê, ông nhìn từ phía vua Lê, theo đúng ý thức “Hoàng Lê thống nhất”. Nên trong đoạn trích này của thiên tiểu thuyết, nếu như có người nào được gọi chỉ bằng một chữ “vua” thì kẻ đó nhất định phải là Lê Chiêu Thống , nếu như có quân đội nào được gọi là “nghĩa quân” (quân chính nghĩa) thì đó cũng chỉ có thể là “quân đội nhà Lê (trong khi lực lượng thực đáng gọi là nghĩa quân, nghĩa quân, quân đội Tây Sơn lại chỉ được gọi chung là “quân lính”, “quân sĩ”, không hề có chữ “nghĩa” nào kế bên). Vào khoảng cuối đoạn trích, người viết còn ghi lại chi tiết kể về cuộc gặp gỡ giữa mẹ con vua Lê với người thổ hào tại một sơn trại thuộc vùng Hòa Lạc. đó không phải một sự cố ý tạo ra tình huống khôi hài, để người đọc có dịp nhạọ cười một kẻ ngu trung. Trái lại, tác giả nhường nhịn như đã gắng sức để cuộc gặp gỡ có ánh lên vẻ cao đẹp của một tấm lòng tôi con tận tụy, trung trinh, ngay cả khi đấng quân vương của mình đang cơn khốn khó. Trong chi tiết này, thấy có cả mừng tủi lệ rơi, cả cơm gà vội vàng thết đãi, cả lối tắt đưa vua chạy loạn … tác giả tỉ cố nhắn rằng: đối với cái triều đại đã tàn kia, lòng người còn chưa nỡ bỏ, và dẫu vua Lê có lâm vào hoán vị nạn thì trong đời vẫn chưa hết mối cô trung …

tức là, xét về mặt lập trường chính trị, tác giả Hoàng Lê Nhất Thống Chí đứng về phía đối địch với phong trào khởi nghĩa Tây Sơn. Song may mắn làm sao họ Ngô đã không thể thắng chính mình. Mối tình cảm chính trị ấy không thắng nổi tình yêu sự thực, không thắng nổi lương tri, lương tâm của người biết trông thấy sự thực và tha thiết muốn nói lên sự thực. Tình cảm chính trị ấy đã không thể chuyển hóa thành sức mạnh văn học, không đủ sức chi phối nội dung của văn học. Không biết người viết Hồi thứ mười bốn của Hoàng Lê Nhất Thống Chí có ngờ rằng, với dự án nghệ thuật này, mình đang viết bản án dành cho chính cái chế độ mình vẫn hằng tôn kính? Và con người phù Lê ấy liệu có tự giác trông thấy rằng mình đang tấu lên khúc ca dành cho những người đang kết thúc số mệnh lịch sử của chính nhà Lê.

Nhưng đó chính là sự thực. Một sự thực vô cùng thú vị khi ta tiếp nhận, thưởng thức và suy ngẫm về tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí.

Tuy nhiên tác giả của những trang viết ta đang nói tới là một nhà văn, một người làm nghệ thuật. Tư cách nghệ sĩ không cho phép ông kể sự thực một cách phiến diện, giản đơn. Hồi chuyện được khởi đầu từ phía có vẻ như trái lại. Đội quân xâm lược nhà Thanh thoạt nhiên được nói tới cứ y như một đạo hung binh, với sức mạnh lay thành phá ải, không gì có thể đương đầu: “Lại nói Tôn Sĩ Nghị sau khi đem quân ra cửa ải, xuyện rừng vượt núi như giẫm đất bằng, ngày đi đêm nghỉ, không phải lo lắng gì, kéo thẳng một mạch tới thành Thăng Long, không mất một mũi tên, như vào chỗ không người”. Cứ xem đây thì chống chọi lại một đạo binh như thế này khác nào đem trứng chọi đá? Chưa hết, ngay liền sau đó, tác giả lại bồi thêm: “Từ xưa những nhà cầm quân chưa có khi nào được dễ dàng như thế”.

Nhưng sự dễ dàng chưa từng có đó, chính nó lại khiến cho những người từng trải, biết suy nghĩ có lý để mà ngờ vực. Từ rất lâu trước đó, người xưa đã hiểu rằng cái gì tới độ thái quá, tới tột cùng thì thế nào cũng gặp phải sự biến. “Cùng tắc biến” (tới tận cùng thì phải thay đổi). Nhưng mà biến theo chiều trái lại. Và cái mầm mống của sự biến ấy, tác giả đã không để cho người đọc phải chờ đợi lâu. Cổ nhân từ xưa đã dạy: “thắng không kiêu”, Nhưng đạo quân của Tôn Sĩ Nghị chưa kịp thắng trận nào cho ra thắng đã quá vội kiêu: “quân lính những đồn tự ý bỏ cả hàng ngũ, đi lại lang thang, không có kỷ luật gì cả … Bọn tướng tá cũng ngày ngày chơi bời tiệc tùng, không hề để ý tới việc quân”. Mầm mống của tiêu vong đã được nứt nanh từ đây.

Chuyện trở nên rõ ràng hơn qua lời của người cung nhân cũ tới từ phủ Trường Yên. Không rõ những lời nói ấy về mặt sử học thì chuẩn xác và sâu xa tới mức nào, chứ về mặt văn học thì chi tiết này cực thú. Không hẳn chỉ về những lời nói của người từng là cung nữ ấy đã phác họa ra đại cục, thắng lợi của vua Lê, nếu như có, cũng chưa mang ý nghĩa gì lớn, mà mối nguy cho triều Lê thì quả đã như mồi lửa âm ỉ bên trong trường vách. Cũng không hẳn chỉ vì những câu nói ấy đã sớm đem lại ấn tượng về một Nguyễn Huệ bách thắng, một Nguyễn Huệ kiêu hùng, từ trước khi Nguyễn Huệ bằng thịt bằng xương xuất hiện trên chương truyện: Xem hắn ra Bắc vào Nam, ẩn hiện như quỷ thần, không người nào có thể lường biết. Hắn bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, làm thịt Văn Nhậm như làm thịt con lợn … Thấy hắn trở tay, đưa mắt là người nào nấy đều phách lạc hồn xiêu, sợ hơn sợ sấm sét. E rằng chẳng mấy lâu nữa hắn lại trở ra, tổng đốc họ Tôn đem thứ quân nhớ nhà kia mà chống lại, thì địch sao cho nổi”?  m vang của một thắng lợi hào hùng nghe như đã văng vẳng dần lên từ lời cảnh báo của cung nhân.

Cái thú văn học trong chi tiết về người cung nhân còn có thể nhìn ra từ chỗ; nó cho thấy, hóa ra, một phụ nữ tầm thường, hèn mọn, bị vua ruồng bỏ, xa cung cấm đã lâu, vậy mà còn thông hiểu binh tình gấp bội phần so với một Thái hậu “mẫu nghi thiên hạ” cao sang, quyền quý. Rồi tới khi bà Thái hậu đem chuyện ấy nói với vua, vua nói lại với Tôn Sĩ Nghĩ thì ta còn vỡ lẽ: những kẻ nắm binh quyền dương dương tự túc kia, còn không có nổi một tri thức phụ nữ!

Vậy là một người phụ nữ vô danh cũng đã thừa khả năng tỉnh ngộ cho cả một bộ sâu triều đình, vua quan, tướng tá về cách đánh, tình thế, cách cầm quân. Lời nói của cung nữ xưa quả đã khiến Thái hậu phải “giật thột” và vua Lê “hoảng sợ”. Nhưng cũng chỉ tới thế thôi. Tác giả Hoàng Lê Nhất Thống Chí trông thấy và đã muốn chúng ta cùng thấu hiểu: Không gì có thể đem lại cho bè lũ bạc nhược kia sức mạnh trong ý chí và hành động. Bọn chúng đã không hành động, dù cho có lo lắng có giận dữ trách mắng nhau. Bởi vì nỗi lo lắng, lời quát nạt rồi cũng chóng qua đi. Và bọn người đó lại tiếp tục nằm ườn ra trên lạc thú, lười nhác tự dối lừa mình trong ý nghĩ: “Cần phải tính toán cho chu đáo không thể vội vã và uể oải đợi chờ tới sang xuân, vào ngày mùng sáu thì sẽ xuất quân, tương tự cũng không còn xa gì nữa”…

Nhà văn đã cho ta thấy một mầm mống tiêu vong nữa của bè lũ Lê Chiêu Thống. Nó nằm trong thực chất của một chế độ đã không còn khả năng hành động, không còn đủ sức mạnh, ý chí, quyết tâm để mà hành động. Và trong khi bọn cướp nước bán nước cứ đờ đẫn đi, rời rã ra trong tự thị và trễ tràng thì người anh hùng áo vải Tây Sơn lại khẩn trương làm được một núi việc khổng lồ.

Quả thế, nếu như quân Thanh không làm gì khác ngoài việc ăn chơi thì quân Tây Sơn lúc nào cũng ráo riết trong chuẩn bị. Phía quân Thanh im lìm bất động : trái lại, phía bên Tây Sơn, tình hình chuyển biến từng ngày. Hẳn không phải là tình cờ, khi chuyển mạch truyện sang phía thời gian tiếp nối nhau, dồn dập: “Ngày 20 tháng ấy (tháng 11 âm lịch, năm Mậu Thân 1788). Sớ lui về Tam Điệp thì ngày 24 Tuyết đã vào tới Phú Xuân”. Chỉ một tháng sau, Nguyễn Huệ đã làm xong mọi việc đắp khắp trong ngoài” và “hạ lệnh xuất quân, hôm ấy, nhằm ngày 25 tháng chạp”. Bốn ngày sau “ngày 29 tới Nghệ An”. Hơn một vạn quân được quân kén ngay sau đó, ngay lập tức được đưa vào cơ ngũ chỉnh tề. Để rồi ngày 30. Quân tới Tam Điệp và ngay tối hôm ấy, năm cánh hùng binh tràn ngập Bắc Hà, sau khi đã kịp mở tiệc khao quân, ăn Tết trước.

Ta đang được chứng kiến văn học của Hoàng Lê Nhất Thống Chí một cỗ máy vận hành hết công suất, một khá thở mạnh mẽ, gấp gáp, một dòng máu chảy sục sôi trong huyết quản, một sức sống rộn rực, bừng bừng, đầy phấn chấn.

Tác giả Hồi thứ mười bốn của Hoàng Lê Nhất Thống Chí thuộc về một dòng tộc danh vọng bậc nhất trên đất Bắc. Còn Nguyễn Huệ xuất thân từ một người áo vải miền Trung. Song không vì vậy mà văn phái Ngô gia đã vội nhìn lãnh tụ Tây Sơn chỉ như một kẻ võ biền, một kẻ nông phu ít học. trái lại, người con của dòng tộc Ngô Thì đã vượt qua rất nhiều thành kiến để đem lại cho người đọc sự thực về một Quang Trung giàu tri thức và tinh thông lòng người. Hãy lắng tai lại một lời chiêu dụ của Hoàng đế Quang Trung trong cuộc duyệt binh lớn ở doanh trấn tại Nghệ An. Có phải là ta đã trông thấy, từ bên dưới lời văn, cái hồn phách thiêng liêng của một Nam quốc sơn hà, cái giọng khích lệ nghiêm nghị của một Hịch tướng sĩ, và nhất là cái âm hưởng dõng dạc, chứa đầy căng một niềm quật cường, tự hào ở những dòng trước tiên của áng thiên cổ hùng văn Bình ngô đại cáo? Chắc chắn phải là một trí tuệ, một tâm hồn cao rộng lắm mới có thẻ bao gồm và chung đúc được chừng ấy tinh hoa trong một bài nói làm lay động lòng người.

Nhưng tác giả sẽ dần dần cho ta hiểu hai khối tự tin kia nặng nhẹ rất khác nhau. Sự tự tin của quân Thanh là sự tự tin kiêu ngạo và mù quáng, tự tin trong ảo tưởng, không biết gì về đối phương, không biết gì về tình thế. Trong khi niềm tự tin bên phía Tây Sơn được bảo đảm chắc nịch rằng bằng cả một công phu chuẩn bị, từ lực lượng phương tiện đương đầu tới việc nuôi dưỡng, nung đúc chí quyết tâm. vì vậy, khi chiến dịch thực sự diễn ra thì đó là trận đánh giữa một bên là dũng cảm, là hào khí ngất trời với bên kia chỉ thấy hoảng loạn đớn hèn, khiếp nhược.

Cái chiến dịch phi thường ấy, trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí, chỉ được kể lại bằng thứ tiếng nói rất thông thường của truyện, của văn xuôi. Và kể không dài, khi in vào sách giáo khoa thì cũng còn chưa đầy nổi hai trang giấy. Nhưng đó là hai trang giấy vô cùng quý giá, vì nó đã ghi lại không chỉ thật trung thực mà còn thật sống động, thật có không khí một thắng lợi cho ngày hôm nay vẫn là thần tốc nhất trong lịch sử Việt Nam.

Người đọc truyện có thể qua đây mà hình dung ra một chuỗi trận đánh tiếp nối nhau, trận nào cũng hùng tráng, trận nào cũng như chớp nhoáng, mà không trận nào giống trận nào. Có trận đánh ở hai sông, sông Gián và sông Thanh Quyết, hết cái gọi là “nghĩa quân” của Lê Chiêu Thống, lại tới quân Thanh mới trông thấy bóng quân Tây Sơn từ xa đã sợ mất mật mà tự tan, mà tháo chạy, để rồi bị bắt sống không thoát một tên. Rồi tới trận Hà Hồi, binh uy của vua Quang Trung đúng là như sấm động, chỉ cần dạ ran lên cũng lấy được đồn. Chỉ thấy quân Thanh phản kháng một lần duy nhất ở Ngọc Hồi, nhưng sự phản kháng mới yếu ớt và ngắn ngủi làm sao! Chúng bắn ra để chẳng trúng người nào. Chúng sử dụng ống phun khói lửa ra, để tự chịu một trận hỏa công khi trời trở gió.

Tác giả Hoàng Lê Nhất Thống Chí càng viết lại càng cho ta thấy rõ sự khác nhau một vực một trời một vực giữa bè lũ Tôn Sĩ Nghị – Lê Chiêu Thống với quân tướng của Quang Trung. Với quân Thanh, súng đạn và ống phun lửa cũng chẳng có nghĩa gì, chẳng làm được việc gì ngoại trừ việc tự đốt mình. Còn với quân Tây Sơn, những vật dụng sinh hoạt thường nhật như ván, như rơm cũng đã đủ khiến họ trở nên vô địch. Quân Thanh chỉ chạy thôi cũng đã chết hàng vạn đứa, như Mực, Quỳnh Đô. Còn đội quân xung kích của Quang Trung trong trận Ngọc Hồi tính ra chỉ khoảng sáu trăm, vậy mà vẫn phá xong một tuyến phòng thủ kiên cố nhất.

Cái có của lũ cướp nước và bán nước, như người viết tác phẩm này cho thấy, là quân đông, vũ khí nhiều. Nhưng ý chí đương đầu, ý thức đương đầu, sự sẵn sàng cho đương đầu lại là cái chúng không hề có. Tuyệt nhiên không thấy ở bọn này, dù chỉ một tẹo cái ý thức mà Trần Quốc Tuấn trước đây đã ghi tạc vào lòng dạ của những tướng dưới quyền mình: “nên nhớ câu “đặt mồi lửa vào dưới đống củi” làm nguy cơ, nên lấy điều “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” làm răn sợ”. Tác gia hồi truyện này cho thấy rõ : bọn chúng cứ yên tâm kề cà, dềnh dàng yến ẩm trên đống lửa, không hề lo chi tới việc bất trắc”. Để rồi khi lửa cháy lên thì việc duy nhất chúng thật khẩn trương làm không phải là cứu hỏa, mà là bỏ chạy cho nhanh. Hồi thứ mười bốn của Hoàng Lê Nhất Thống Chí thực tế đã thành tấm bia mồm còn vững bền gấp hàng chục, hàng trăm lần bia đá, để ghi lại cho muôn thuở sau cười chê sự hèn nhát của một lũ vua quan tướng tá.

Những chi tiết cụ thể, sinh động được nêu ra ở đây, quả tình hùng hồn hơn mọi lời nghị luận. Quang Trung là vua, nhưng vẫn tự mình cưỡi voi đốc chiến. Còn Tôn Sĩ Nghị, thân làm tổng chỉ huy, nhưng chưa xung trận đã sợ hãi tháo chạy, vội vã tới mức “Ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp”. Quân lính dưới quyền cũng không hề đương đầu mà chỉ biết chạy theo, để rồi sự hèn nhát chịu đòn trừng trị cuối cùng: không người nào đánh mà quân chết đuổi nhiều tới mức một dòng sông lớn như Nhị Hà mà nước cũng phải tắc nghẽn, không chảy nổi.. Mẹ con vua Lê thì bị bỏ rơi, phải qua sông bằng thuyền đánh cá, leo đào mãi mới gặp được Tôn Sĩ Nghị, vậy mà vẫn phải chịu nhục nhã tỏ ra sự tri ân: “Đội ơn tướng quân … Đều là ơn của tướng quân ban cho!”.

Người viết Hoàng Lê Nhất Thống Chí, dù muốn dù không, thì vẫn phải nhận rằng: sức mạnh duy nhất trong trận đại chiến chỉ có thể tìm thấy từ phía của quân đội Tây Sơn.. Sức mạnh ấy có nguồn gốc ở nhân dân. sử dụng ván phủ rơm dấp nước kết lại thành lá chắn, thành tường chống đạn để xung phong, một sự khôn ngoan kì lạ thế không thể được sinh ra từ bọn người hoa xa hoa, quyền quý. Và sự phấn khích, đồng lòng muôn người như một, không ngại nặng nhọc, không quản hi sinh, tình cảm ấy chính là ánh lửa rực rỡ cháy lên từ ý thức yêu nước của khối quần chúng nhân dân vĩ đại. Sức mạnh vô địch của nhân dân cộng với tài trí vô song của người lãnh đạo đã làm cho đội quân của những người áo vải thông thường phút chốc lớn vụt lên sánh ngang thần thánh, uy thế chấn động trời đất, ẩn hiện, biến hóa xuất quỷ nhập thần, “tướng ở trên trời xuống, quân dưới đất chui lên”. Và Hồi thứ mười bốn này của Hoàng Lê Nhất Thống Chí sẽ được thực sự trở thành một khúc ca, với những câu văn cứ làm như ta phải nhớ không nguôi tới Bình Ngô Đại Cáo.

Rồi trong hồi chuyện ấy, tác giả sẽ còn cám cảnh cho Lê Chiêu Thống khi phải chạy khỏi Thăng Long. Rồi tác giả sẽ còn khép hồi truyện này bằng hai dòng thơ, như muốn gợi rất nhiều lâm li, người nào oán:

cương vực xong bề tính liệu

Nước non buồn nỗi lúc chia ly

Nhưng có nhẽ họ Ngô đã hoài công. Tình cảm xót xa có nhẽ đã không thể truyền vào lòng của số đông người đọc truyện. Bởi trước đó, người viết đã quá thành công trong việc dựng lên chân dung của một triều đại không còn sức sống: một triều đại cần phải chia tay, phải đưa tiễn xuống mồ một cách vui vẻ chứ không phải một cách đau buồn. Người viết cũng đã quá thành công trong việc tạo ra cảm giác: thắng lợi oai hùng này quả tình là thuộc về người xứng đáng, quân khởi nghĩa Tây Sơn dưới sự dẫn dắt của vị anh hùng dân tộc Quang Trung.

———

Trên đây là dàn ý tìm hiểu Hoàng Lê nhất thống chí cùng một số bài mẫu hay nhất tìm hiểu hồi thứ 14 trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí. Hy vọng với dàn ý trên phần nào giúp những em trong việc triển khai ý văn khi làm bài. Chúc những em học tốt môn văn mẫu 9.

 

[Văn mẫu 9] Hướng dẫn lập dàn ý tìm hiểu tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí, tổng hợp dàn ý tìm hiểu Hoàng Lê nhất thống chí

Bản quyền bài viết thuộc trường THPT thành Phố Sóc Trăng. Mọi hành vi sao chép đều là gian lận!

Nguồn chia sẻ: Trường Cmm.edu.vn (thptsoctrang.edu.vn)

Bạn thấy bài viết Dàn ý tìm hiểu Hoàng Lê nhất thống chí có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Dàn ý tìm hiểu Hoàng Lê nhất thống chí bên dưới để Kênh Văn Hay có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: kenhvanhay.edu.vn của Kênh Văn Hay

Nhớ để nguồn bài viết này: Dàn ý tìm hiểu Hoàng Lê nhất thống chí của website kenhvanhay.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm bài viết hay:  Top 4 bài Phân tích truyện cười Tam đại con gà hay nhất - Ngữ văn lớp 10

Viết một bình luận