Chiếu dời đô có kết cấu chặt chẽ, lập luật giàu sức thuyết phục

Trường Tiểu Học Đằng Lâm

Updated on:

Bạn đang xem: Chiếu dời đô có kết cấu chặt chẽ, lập luật giàu sức thuyết phục tại Kênh Văn Hay

Chiếu dời đô ra đời khi Lí Thái Tổ mới lên ngôi, từ đó ta thấy được một vị vua tốt, luôn nhìn xa trông rộng, là một bậc quân nhân mẫu mực, biết quan tâm tới đời sống nhân dân, đau xót khi nhìn thấy con dân cực khổ và không màng tới những chi tiết đẹp đẽ cầu kì như những vị vua đời trước. Cùng Cmm.edu.vn chứng minh tác phẩm Chiếu dời đô để hiểu rõ hơn sức thuyết phục của nó dựa trên kết cấu thật sự vô cùng tuyệt vời nhé:

Văn mẫu Chiếu dời đô có kết cấu chặt chẽ, lập luật giàu sức thuyết phục

Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn là một bài Chiếu có kết cấu chặt chẽ, gồm 214 chữ (trong nguyên bản chữ Hán), ý tứ sâu xa, ngôn từ phong phú và thuyết phục, Lý Công Uẩn đã thổ lộ với bề tôi và thần dân của mình hai vấn đề quan trọng: Lý do phải dời đô và việc lựa lựa chọn, xây dựng Kinh đô mới.

Phần đầu của bài Chiếu làm nhiệm vụ đặt vấn đề và có dung lượng câu chữ lớn hơn phần sau. Điều đó là hợp lý bởi nó có nhiệm vụ thuyết phục hàng triệu thần dân, đặc biệt là với những người mà quyền lợi đã gắn bó với Hoa Lư từ bao đời nay, sức ỳ ở họ là vô cùng lớn. Đó là chưa nói tới những lực lượng chống đối, những kẻ quyền quý vừa bị tước đoạt ngôi bá chủ thiên hạ đang lẩn quất trong núi rừng Hoa Lư hiểm trở, họ cũng đang chờ đợi thời cơ để lật ngược thế cờ từ tay vị vua trẻ. Việc dời đô vì vậy ngoài những lý do cao cả mang ý nghĩa dân tộc, thời đại, còn là một việc nên nhanh chóng tiến hành để giúp Lý Công Uẩn thoát khỏi sức ép của những thế lực cũ, củng cố và khẳng định địa vị độc lập, tự chủ của mình ở một miền đất mới.

Mở đầu bài Chiếu, Lý Công Uẩn đưa ra những dẫn chứng hùng hồn từ sử sách Trung Hoa cho thấy việc dời đô xưa nay không hiếm nhưng thiên đô là một việc lớn không thể chỉ tuân theo lợi ích vị kỷ của mỗi tư nhân. Việc làm của những vua Bàn Canh nhà Thương, Thành Vương nhà Chu không phải là việc làm tự ý theo riêng mình mà với mục đích chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn thuở cho con cháu, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu như thấy thuận lợi thì thay đổi. Đó là lý do khiến cho vận nước trong tương lai, phong tục phồn thịnh. Đây chính là mục đích của việc dời đô và cũng là phương châm hành động của Lý Công Uẩn. Vị Hoàng đế vốn là một danh tướng dũng mãnh đã mở đầu bài Chiếu bằng những kinh nghiệm xương máu rút ra từ lịch sử để thuyết phục lòng người bằng lý lẽ hùng hồn chứ không phải bằng quyền uy của một người đứng đầu thiên hạ. Ông khẳng định việc làm của mình là vì lợi ích chung của cả cộng đồng, vì sự phát triển dài lâu của dân tộc, lựa chọn nơi trung tâm quốc gia, trước hết là để tính kế trong tương lai, đem lại giàu có cho con cháu. Việc làm ấy là hoàn toàn thuận theo ý trời, hợp với lòng dân – những người đã chán ghét cựu triều và đặt niềm tin vào triều đại mới sẽ đem lại sự ổn định cho quốc gia. Từ việc xác định rõ lý do và việc cấp bách phải dời đô, Lý Công Uẩn đã nói tới chuyện trong nước: vậy mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích ứng. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi. Nạn cát cứ đã thành tai họa của dân tộc một thời. Một quốc gia sẽ chưa thật sự trưởng thành một khi những vị hoàng đế thắng trận, để củng cố địa vị và lực lượng cứ phải đóng đô cát cứ trên quê hương mình, cố thủ giữ mình với một tầm nhìn thiển cận. Cố đô Hoa Lư với địa thế núi rừng, sông nước hiểm trở, đã có một vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc thống nhất quốc gia của người anh hùng Đinh Bộ Lĩnh và là hậu phương vững chắc cho chiến công oanh liệt của Lê Hoàn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống, nhưng nay nó không còn thích hợp với công cuộc xây dựng và phát triển một quốc gia hùng mạnh thời bình nữa. Địa thế Hoa Lư với núi rừng bao bọc chỉ thích hợp với những trận đại chiến ở quy mô nhỏ, không có tầm bao quát toàn cục quốc gia, hợp với thế phòng thủ hơn tiến công, lại không phải ở nơi trung tâm quốc gia, giao thông chủ yếu chỉ bằng đường thủy. Cuối triều Tiền Lê, sau khi Lê Hoàn mất, những hoàng tử chém giết thịt lẫn nhau tranh giành ngai rồng vàng gây nên bao cảnh nồi da xáo thịt. Lê Long Đĩnh, vị vua cuối cùng của nhà Tiền Lê lại là một bạo chúa, lấy việc chém giết thịt, dâm dục làm vui. quốc gia rơi vào cảnh suy thoái, trầm luân, lòng người ly tán. Trong một bối cảnh tương tự, việc thiên đô là hợp lẽ tự nhiên, thuận theo lòng người. nếu như là một ông vua tầm , con người vì dân, vì nước ấy đã lựa chọn Đại La. Việc làm đó đã thể hiện tầm nhìn xa tthường, vị kỷ, có nhẽ Lý Công Uẩn đã cho dời đô về quê mình, cũng là quê hương của vị quân sư đại tài Vạn Hạnh. Đó là châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang – vốn cũng là một nơi đô hội, dân cư đông đúc, mùa màng tươi tốt, đất đai phì nhiêu, bằng phẳng. Nhưng không rông rộng, tầm nhìn chiến lược trong tương lai của một bậc minh quân, đặt trách nhiệm với non sông, quốc gia lên trên mọi lợi ích tư nhân vị kỷ. Việc dời đô và lựa lựa chọn Kinh đô mới đã chứng tỏ bản lĩnh và sự vững mạnh, trưởng thành của dân tộc Việt trên bước đường phát triển của mình. Cả dân tộc đã giống như một dòng sông lớn, dòng sông ấy đã băng mình ra biển cả đại dương, kiên quyết vượt qua những thác ghềnh hiểm trở, nó không còn chịu uốn mình lẩn khuất trong những mương mạch chật hẹp nữa. Việc dời đô khỏi Hoa Lư để xây dựng Kinh đô mới, nơi trung tâm tụ họp khí thiêng của sông núi sẽ đưa dân tộc thoát ra khỏi sự cát cứ vùng miền và cũng là thoát khỏi những suy nghĩ chật hẹp để vươn mình lên những tầm tư tưởng lớn lao, tạo nên vị thế mới cho quốc gia, sẽ là tiền đề làm xuất hiện một thế hệ những người anh hùng mới, kết tinh tư tưởng dân tộc và thời đại, tài giỏi thông tuệ về nhiều phương diện, mang dáng vóc và uy danh của dân tộc Đại Việt. Lý Công Uẩn chính là đại diện cho thế hệ trước hết của những con người khổng lồ về trí tuệ và thể chất đó. Tiếp nối ông sẽ là những vị vua như Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, những danh tướng như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhân Tông, Phạm Ngũ Lão… tiền trình tốt đẹp đáng tự hào ấy được khởi đầu từ ngày chiến thuyền của Lý Công Uẩn dời rừng núi Hoa Lư để tiến về phía Bắc.

Lời lẽ mở đầu của bài Chiếu vừa hào hùng, có sự phối hợp giữa lẽ và tình, với sự suy luận mạch lạc, đem lại cho người nghe, người đọc một nhận thức sâu sắc về lẽ phải và sự hợp lý của việc phải dời đô. Sức thuyết phục của bài Chiếu không ở chỗ dài lời, dàn trải. Thông qua phép đối, dưới phương thức văn biền ngẫu, Lý Công Uẩn đã đưa ra những lập luận, lý lẽ và chứng cứ hết sức thuyết phục. Đó không phải là những lời lẽ cứng nhắc, thuần túy mệnh lệnh của bậc đế vương (vốn là văn phong quan phương của thể Chiếu) mà đó chính là lý lẽ của sự thông tuệ, thấu hiểu, của niềm thông cảm, của nghệ thuật hùng biện xuất phát từ lợi ích chung của dân tộc, là lời tâm tình bộc trực của một vị minh quân. Sự phối hợp giữa lý và tình có sức thuyết phục cao, giàu xúc cảm, cùng với lối xưng hô thân tình và nỗi niềm đau xót cho quần chúng. # và giang sơn quốc gia (Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không đổi dời) sẽ là giọng điệu chung xuyên suốt bài Chiếu.Đoạn mở đầu của bài Chiếu đã tạo được niềm tin tưởng trong lòng người về mục đích cao cả của việc cần thiết phải dời đô. Nhưng đoạn tiếp theo không kém quan trọng là phải thuyết phục được muôn dân lựa chọn thành cổ Đại La để xây dựng Kinh đô mới. Cả hai phần đều hết sức thiết yếu, hỗ trợ lẫn nhau, sự thành công của nhiệm vụ thứ nhất sẽ là tiền đề cho thắng lợi của nhiệm vụ tiếp theo.

Chỉ một thời gian ngắn, sau khi được triều thần đưa lên ngai rồng vàng, Lý Công Uẩn đã có ý định dời đô. Ý định đó phát sinh vào tháng Giêng thì tới tháng Bảy mùa thu năm Canh tuất (1010) công cuộc vĩ đại đó đã được tiến hành. Rõ ràng kế bên sự anh minh, Lý Công Uẩn còn là một ông vua có tính cách quyết đoán và táo tợn. Đại La dưới con mắt của nhà chiến lược thiên tài Lý Công Uẩn có một vị trí thuận lợi đủ đường. Nơi đây đã từng là kinh đô một thuở dưới thời thống trị của Cao Biền, một người nổi danh về tài xem phong thủy. Nơi ấy cũng đã từng chứng kiến những chiến công oanh liệt của những thế hệ con dân đất Việt đánh đuổi quân đô hộ để phóng thích giang sơn quốc gia. Và cũng không phải là ngẫu nhiên khi Ngô Vương sau khi đánh đuổi quân Nam Hán, giành lại độc lập cho dân tộc đã lựa chọn mảnh đất Cổ Loa cao ráo xưa kia của Thục đế An Dương Vương – một địa danh rất sắp thành Đại La để định đô. Nhưng điều quan trọng còn là bởi: Đại La ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tươi tốt. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương quốc gia, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn thuở. Mục đích cuối cùng của việc lựa lựa chọn kinh đô mới cũng nhất quán với mục đích của việc dời đô khỏi Hoa Lư, đó là vì lợi ích của dân và tương lai lâu bền của xã tắc. Có những người phê phán cái nhìn có tính chất phong thủy của Lý Công Uẩn khi lựa chọn mảnh đất Đại La để xây dựng Kinh đô mới, nhưng cần phải nói rằng chính cái nhìn có tính chất thiêng liêng đó (ngày nay khoa học đã chứng minh vận dụng phong thủy trong việc lựa chọn thế đất trong xây dựng và thiết kế là một cách lựa lựa chọn cần thiết, có tính khoa học, tránh được những tổn thất không đáng có do không hiểu biết về địa hình và thổ địa) đã góp phần quan trọng vào việc tìm ra cho dân tộc một vùng đất xứng danh để xây dựng Kinh đô cho muôn thuở. Một Kinh đô vừa ở tư thế tiến công, lại vừa ở vị trí phòng thủ thuận lợi trong thế đụng độ với những thế lực xâm lược phương Bắc. Đó là nơi trung tâm của bốn phương quốc gia, giao thông tiện lợi, xung quanh Kinh đô là những vùng đất cổ trù phú lâu đời của tộc Việt với những truyền thống tốt đẹp đã tồn tại hàng trăm năm. Đó chính là chốn địa linh, địa lợi của đất Việt, nơi trung tâm tụ họp tinh hoa của nòi giống. Sau một nghìn năm dựng nước và giữ nước, lịch sử đã chứng minh rằng cái nhìn của Lý Công Uẩn là cái nhìn xuyên thấu lịch sử, cái nhìn của bậc hào kiệt biết mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn thuở.

Kết thúc bài Chiếu vị vua anh minh viết: Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. những khanh nghĩ thế nào? Câu nói ấy thể hiện ý thức dân chủ vốn là truyền thống của cộng đồng Việt trong những giờ phút quyết định của lịch sử.

Chiếu dời đô là áng văn học có vẻ đẹp toàn diện: Đó là vẻ đẹp hài hòa của sự thông tuệ, của tấm lòng yêu nước thương dân, của sự hy sinh và lòng quả cảm, của lòng tự tin, tự hào dân tộc, của sự suy ngẫm cho hiện tại và tương lai, của sự tiếp nối truyền thống, của khát vọng cháy bỏng về một quốc gia độc lập, thống nhất, thịnh vượng và hùng mạnh. Bài Chiếu vừa là áng văn chính luận súc tích, có kết cấu chặt chẽ, lập luận lôgic, vừa thể hiện lòng nhân ái mông mênh với thứ ngôn từ hùng biện, thuyết phục và rộng lượng, nhân ái mà lại mang ý thức hội thoại dân chủ.

Xem thêm: Soạn bài Chiếu dời đô chi tiết nhàm lưu ý lại những nội dung cần thiết cho bài văn của mình em nhé!

Văn mẫu chứng minh Chiếu dời đô có sức thuyết phục lớn bởi có sự phối hợp giữa lí và tình

Bài số 1

“Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn là sự tỏ bày ý định từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay) khi ông mới được triều đình tôn lên làm hoàng đế . Sau đó , ông đổi tên kinh đô thành Thăng Long . đó là năm Thuận Thiên thứ nhất – năm khởi đầu sự nghiệp lừng lẫy của nhà Lý , một triều đại có ý nghĩa hết sức quan trọng đưa văn hiến của nước nhà tới đỉnh cao vòi vọi .

Xưa nay , thủ đô là trung tâm về văn hoá , chính trị của 1 quốc gia . Nhìn vào thủ đô là nhìn vào sự thịnh suy của một dân tộc . Thủ đô có ý nghĩa vô cùng lớn . nhịn nhường như lịch sử của những nước có nền văn minh lâu đời đều có những cuộc dời đô như thế . Mỗi lần dời là một thử thách của dân tộc . Đó phải là quyết định của những đầu óc ưu tú nhất thời đại . Nói cách khác , ko có ý chí quyết tâm lớn , ko có tầm nhìn thấu cả tương lai thì LÝ Công Uẩn ko thể nói tới chuyện dời đô .

Mở đầu bài chiếu , nhà vua giảng giải vì sao lại dời đô . Và bằng một lý lẽ ngắn gọn nhưng sắc sảo , cùng với dẫn chức thiết thực , nhà vua đã khẳng định : việc dời đô ko phải là hành động , là ý chí của một người . Nó là biểu hiện cho xu thế thế tất của lịch sử . Lý Công Uẩn tuyệt vời là đã hiểu được khát vọng của nhân dân , khát vọng của lịch sử . Dân tộc Việt không chỉ là một nước độc lập . Muốn bảo vệ được điều ấy thì non sông , nhân tâm con người phải thu về 1 mối . Tất cả thần dân phải có ý chí tự cường để xây dựng nước Đại Việt thành quốc gia thống nhất vững mạnh . Muốn vậy , việc trước hết là phải tìm một nơi “trung tâm của trời đất” , một nơi có thế “rồng cuộn hổ ngồi” . Nhà vua đã rất tâm đắc và hào hứng nói tới cái nơi “đúng ngôi nam bắc đông tây” lại “nhìn sông dực núi” . Nơi đây ko phải là miền Hoa Lư chật hẹp , núi non bao bọc lởm chởm mà là “ địa thế rộng mà bằng , đất đai cao mà thoáng” . tương tự , đây là mảnh đất lí tưởng “ dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ và ngập lụt , muôn vật rất mực phong phú tươi tốt .”Thật cảm động , vị vua anh minh khai mở 1 triều đại chói lọi trong lịch sử Đại Việt đã rất quan tâm tới nhân dân . Tìm chốn lập đô cũng vì dân , mong cho dân được hạnh phúc . Trong niềm tin của vua , có 1 kinh đô tương tự , nước Đại Việt sẽ vững bền muôn thuở .

Dời đô ra Thăng Long là 1 bước ngoặc vô cùng lớn . Nó đánh dấu sự trường thành của dân tộc Đại Việt . Chúng ta ko cần phải sống phòng thủ , phải dựa vào thế hiểm trở như ở Hoa Lư để ứng phó với quân thù . Chúng ta đã đủ vững mạnh để lập đô ở nơi có thể đưa nước phát triển đi lên , đưa quốc gia trở thành quốc gia độc lập sánh vai với phương Bắc . Kinh đô Thăng Long quả là cái nôi lập đế nghiệp cho muôn thuở , là nơi để cho sơn hà xã tắc được vững bền muôn thuở vậy !

Có thể nói , với trí tuệt anh minh tuyệt vời , với lòng nhân hậu tuyệt vời , Lý Công Uẩn đã thổ lộ ý định với những quan trong triều ý định dời đô giàu sức thuyết phục . Phần đầu nhà vua đưa ra những lý lẽ thuyết phục là nhờ những chứng cớ sử sách . Nhưng phần sau nhà vua đã đưa ra những suy nghĩ của riêng mình về miền đất mà vua định lập đô , ko chỉ là cho ta thoả mãn về lí trí mà quan trọng hơn là bị thuyết phục bằng tình cảm . Ta bắt gặp ở đây 1 giọng nói đầy nhân từ , tấm lòng lo cho dân cho nước rất mực . Những điều vua nói cách đây cả nghìn năm nhưng ngày hôm nay nhìn lại vẫn giữ nguyên tính chân lí của nó . Trải qua bao thăng trầm , con rồng bay lên bầu trời Hà Nội vẫn làm cho cả nước thán phục tư cách , tài năng của Lý Công Uẩn , 1 vị vua anh minh vĩ đại .

“Chiếu dời đô” là áng văn xuôi cổ độc đáo , đặc sắc của tổ tiên để lại . tiếng nói trọng thể , đúng là khẩu khí của bậc đế vương . Đó là kết tinh vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ Việt Nam . Nó khơi dậy trong lòng nhân dân ta lòng tự hào và ý chí tự cường mạnh mẽ .

Tham khảo bài văn mẫu: tìm hiểu Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn

Bài số 2

Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) được Lý Công Uẩn công bố năm 1010, trước khi dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La. Với ý nghĩa và sự tác động đặc biệt, đã trở thành một văn kiện chính trị, lịch sử, văn hoá quan trọng nổi tiếng trong một nghìn năm qua. Điểm nổi bậc và là yếu tố làm nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài chiếu này chính là cái lí thuyết phục, sắc bén, trực chỉ nhân tâm, chiếm ngự lòng người bằng những lời lẽ bình dị nhưng hết sức sâu sắc.

Với giọng văn thư thả mà hùng hồn, lời lẽ bình dị mà thắm thiết, lí lẽ sắc bén mà thiết tha tình cảm, bài chiếu đã khẳng định bản lĩnh và truyền thống lịch sử lâu đời của dân tộc, củng cố khối kết đoàn thống nhất, đem lại cho dân tộc và quốc gia một vị thế mới trên bước đường phát triển, mở ra một thời kỳ vững mạnh hùng cường của dân tộc.

Lấy tư cách một vị hoàng đế, trong một bài chiếu có kết cấu chặt chẽ, ý tứ sâu xa, ngôn từ phong phú và thuyết phục, Lí Công Uẩn đã thổ lộ cùng những quan và thần dân của mình một ý nguyện quan trọng với hai vấn đề chính: lí do cần phải dời đô và việc lựa lựa chọn vùng đất xây dựng kinh đô mới nhằm mở ra một thời đại mới: thời đại thái bình thịnh trị.Việc dời đô là quốc gia đại sự, là trách nhiệm và sự nghiệp của toàn dân, không thể quyết định hay thực hiện trong một sớm một chiều. Với lại, quốc gia vừa đi qua nạn binh đao, nền hòa bình gây dựng chưa được bao lâu, muôn dân còn đang vất vả, muốn dời đô ngay lúc này e rằng càng làm cho dân thêm khốn khổ. Lý công Uẩn rất hiểu điều đó. bởi vậy, trước hết ông nói về cái lí phải dời đô và khẳng định dời đô là thế tất, thuận theo quy luật của trời đất và nhân tâm.

bởi vậy, mở đầu bài chiếu, ông viện dẫn tấm gương sáng ngời về đức trị của vua Bàn Canh và vua Thành Vương đã nhiều lần dời đô, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy tiện lợi thì dời đổi, nhằm mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn thuở cho con cháu. Thế nên vận nước được trong tương lai, phong tục bởi vậy mà phồn thịnh, lưu truyền. Đó là thành công đáng phải tham khảo.

Cái dụng ý của Lý Công Uẩn muốn nói rằng việc dời đô không phải là không có ở trên đời, người xưa đã làm và thành công, nay ta học tập cái tốt của người xưa cũng là hợp với quy luật của trời đất. Có thể nói, Lý Công Uẩn đã đánh đúng vào tâm lí của muôn dân bởi chuyện của Thương, Chu vốn được truyền tụng khắp nhân gian, người nào mà không biết, từ đó có thể gây được sự đồng cảm, thấu hiểu và ủng hộ sâu sắc.

Tiếp tới, ông viện dẫn hai nhà Đinh, Lê – hai triều đại trước, đã không chịu dời đổi, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, muôn vật không được thích ứng, quốc gia bao năm nằm trong địa thế hạn hẹp, không tụ họp được khí thiêng của trời đất, nên yếu kém, nhu nhược.Điều ấy, muôn dân cũng đã rất rõ. Hai triều Đinh, Lê trong suốt chiều dài lịch sử, vì đống đô ở Hoa Lư đã không thể mở rộng quốc gia. Tuy Hoa Lư có lợi thế rừng núi tiện lợi trong việc chống giặc xong sản xuất lại hết sức hạn chế khiến cho quốc gia không thể phồn thịnh, muôn dân còn đói khổ.

Trong suốt thời gian tồn tại, hai triều đại đã gây biết bao đau thương cho quốc gia. những vị vua bất tài vô dụng đã để cho triều thần lộng hành, tranh giành quyền lực, chém giết thịt lẫn nhau, quần chúng. # chưa bao giờ được yên ổn. Đó cũng là do cái thế đất không kết tụ tinh nhanh. Sự diệt vong của hai triều đại cũng là thế tất nhưng dưới lời lẽ của Lý công Uẩn càng trở nên thống thiết vô cùng.

Đoạn mở đầu đã đủ sức tạo niềm tin tưởng trong lòng người vào mục đích cao cả cảu việc nhất thiết phải dời đô nhưng đoạn tiếp theo mới thực sự thuyết phục lòng người về ý nguyện lớn lao và sự lựa chon sáng suốt của vị lãnh đạo tài giỏi, anh minh, lỗi lạc khi quyết định lựa lựa chọn thành Đại La làm nơi định đô mới.

Thành Đại La dưới con mắt của nhà chiến lược thiên tài Lý Công Uẩn có một vị trí thuận lợi hiếm có. Nơi đây đã từng là kinh đô một thuở dưới thời thống trị của Cao Biền, một bậc thầy phong thuỷ, được ca tụng là “đệ nhất địa lí kì sư”.

Nhưng điều quan trọng là bởi Đại La “ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tươi tốt. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương quốc gia”.

bởi vậy Đại La xứng đáng “là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn thuở”. Sự “thắng thế” của thành Đại La so với kinh đô Hoa Lư là quá rõ, lại được nhìn nhận bởi một vì vua anh minh, vì nước vì dân càng làm thuyết phục lòng người. bởi vậy cũng dễ hiều, khi bài chiếu được công bố đã nhận được sự ủng hộ lớn lao của triều thần và toàn dân quốc gia, khiến cho việc dời đô điễn ra rầm rộ và nhanh chóng ngay sau đó.

Lí Công Uẩn không dụng nhiều lời mà hướng tới cái lí sắc bén, thuyết phục lòng người. Điểm cốt yếu là ông viện dẫn cái lí lẽ mà người nào cũng thấu rõ, kí thác vào đó sức mạnh của niềm tin, nhanh chóng chiếm lĩnh và tìm kiếm sự ủng hộ tán thành của bách tính.

Sự thành công trong chiến lược dời đô cũng là do bởi người lãnh đạo có đức cao, rộng lượng, lấy nhân tâm thu phục lòng người, biểu dương cái đức để thống trị quốc gia, mưu toan nghiệp lớn vì lợi ích của muôn dân cứ không phải toan tính cho riêng mình. bởi vậy, muôn người hồ hởi chung tay cùng triều đình không ngại gian lao mà dời đổi.

Cái tài tình của Lý Công Uẩn là ông đã hiểu rõ lòng dân, nắm vững tâm tư nguyện vọng của bách tính. Thế nên, lời nói tuy hết sức ngắn gọn nhưng lại có sức biểu dương lớn, nhanh chóng thu phục lòng người, đưa cuộc vận động nhanh chóng biến thành hành động cụ thể, hiệu quả ngay sau đó.

Bài số 3

Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn là một bài Chiếu có kết cấu chặt chẽ, gồm 214 chữ (trong nguyên bản chữ Hán), ý tứ sâu xa, ngôn từ phong phú và thuyết phục, Lý Công Uẩn đã thổ lộ với bề tôi và thần dân của mình hai vấn đề quan trọng: Lý do phải dời đô và việc lựa lựa chọn, xây dựng Kinh đô mới. 

Phần đầu của bài Chiếu làm nhiệm vụ đặt vấn đề và có dung lượng câu chữ lớn hơn phần sau. Điều đó là hợp lý bởi nó có nhiệm vụ thuyết phục hàng triệu thần dân, đặc biệt là với những người mà quyền lợi đã gắn bó với Hoa Lư từ bao đời nay, sức ỳ ở họ là vô cùng lớn. Đó là chưa nói tới những lực lượng chống đối, những kẻ quyền quý vừa bị tước đoạt ngôi bá chủ thiên hạ đang lẩn quất trong núi rừng Hoa Lư hiểm trở, họ cũng đang chờ đợi thời cơ để lật ngược thế cờ từ tay vị vua trẻ. Việc dời đô vì vậy ngoài những lý do cao cả mang ý nghĩa dân tộc, thời đại, còn là một việc nên nhanh chóng tiến hành để giúp Lý Công Uẩn thoát khỏi sức ép của những thế lực cũ, củng cố và khẳng định địa vị độc lập, tự chủ của mình ở một miền đất mới.

Mở đầu bài Chiếu, Lý Công Uẩn đưa ra những dẫn chứng hùng hồn từ sử sách Trung Hoa cho thấy việc dời đô xưa nay không hiếm nhưng thiên đô là một việc lớn không thể chỉ tuân theo lợi ích vị kỷ của mỗi tư nhân. Việc làm của những vua Bàn Canh nhà Thương, Thành Vương nhà Chu không phải là việc làm tự ý theo riêng mình mà với mục đích chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn thuở cho con cháu, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu như thấy thuận lợi thì thay đổi. Đó là lý do khiến cho vận nước trong tương lai, phong tục phồn thịnh. Đây chính là mục đích của việc dời đô và cũng là phương châm hành động của Lý Công Uẩn. Vị Hoàng đế vốn là một danh tướng dũng mãnh đã mở đầu bài Chiếu bằng những kinh nghiệm xương máu rút ra từ lịch sử để thuyết phục lòng người bằng lý lẽ hùng hồn chứ không phải bằng quyền uy của một người đứng đầu thiên hạ. Ông khẳng định việc làm của mình là vì lợi ích chung của cả cộng đồng, vì sự phát triển dài lâu của dân tộc, lựa chọn nơi trung tâm quốc gia, trước hết là để tính kế trong tương lai, đem lại giàu có cho con cháu. Việc làm ấy là hoàn toàn thuận theo ý trời, hợp với lòng dân – những người đã chán ghét cựu triều và đặt niềm tin vào triều đại mới sẽ đem lại sự ổn định cho quốc gia. Từ việc xác định rõ lý do và việc cấp bách phải dời đô, Lý Công Uẩn đã nói tới chuyện trong nước: vậy mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích ứng. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi. Nạn cát cứ đã thành tai họa của dân tộc một thời. Một quốc gia sẽ chưa thật sự trưởng thành một khi những vị hoàng đế thắng trận, để củng cố địa vị và lực lượng cứ phải đóng đô cát cứ trên quê hương mình, cố thủ giữ mình với một tầm nhìn thiển cận. Cố đô Hoa Lư với địa thế núi rừng, sông nước hiểm trở, đã có một vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc thống nhất quốc gia của người anh hùng Đinh Bộ Lĩnh và là hậu phương vững chắc cho chiến công oanh liệt của Lê Hoàn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống, nhưng nay nó không còn thích hợp với công cuộc xây dựng và phát triển một quốc gia hùng mạnh thời bình nữa. Địa thế Hoa Lư với núi rừng bao bọc chỉ thích hợp với những trận đại chiến ở quy mô nhỏ, không có tầm bao quát toàn cục quốc gia, hợp với thế phòng thủ hơn tiến công, lại không phải ở nơi trung tâm quốc gia, giao thông chủ yếu chỉ bằng đường thủy. Cuối triều Tiền Lê, sau khi Lê Hoàn mất, những hoàng tử chém giết thịt lẫn nhau tranh giành ngai rồng vàng gây nên bao cảnh nồi da xáo thịt. Lê Long Đĩnh, vị vua cuối cùng của nhà Tiền Lê lại là một bạo chúa, lấy việc chém giết thịt, dâm dục làm vui. quốc gia rơi vào cảnh suy thoái, trầm luân, lòng người ly tán. Trong một bối cảnh tương tự, việc thiên đô là hợp lẽ tự nhiên, thuận theo lòng người. nếu như là một ông vua tầm , con người vì dân, vì nước ấy đã lựa chọn Đại La. Việc làm đó đã thể hiện tầm nhìn xa tthường, vị kỷ, có nhẽ Lý Công Uẩn đã cho dời đô về quê mình, cũng là quê hương của vị quân sư đại tài Vạn Hạnh. Đó là châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang – vốn cũng là một nơi đô hội, dân cư đông đúc, mùa màng tươi tốt, đất đai phì nhiêu, bằng phẳng. Nhưng không rông rộng, tầm nhìn chiến lược trong tương lai của một bậc minh quân, đặt trách nhiệm với non sông, quốc gia lên trên mọi lợi ích tư nhân vị kỷ. Việc dời đô và lựa lựa chọn Kinh đô mới đã chứng tỏ bản lĩnh và sự vững mạnh, trưởng thành của dân tộc Việt trên bước đường phát triển của mình. Cả dân tộc đã giống như một dòng sông lớn, dòng sông ấy đã băng mình ra biển cả đại dương, kiên quyết vượt qua những thác ghềnh hiểm trở, nó không còn chịu uốn mình lẩn khuất trong những mương mạch chật hẹp nữa. Việc dời đô khỏi Hoa Lư để xây dựng Kinh đô mới, nơi trung tâm tụ họp khí thiêng của sông núi sẽ đưa dân tộc thoát ra khỏi sự cát cứ vùng miền và cũng là thoát khỏi những suy nghĩ chật hẹp để vươn mình lên những tầm tư tưởng lớn lao, tạo nên vị thế mới cho quốc gia, sẽ là tiền đề làm xuất hiện một thế hệ những người anh hùng mới, kết tinh tư tưởng dân tộc và thời đại, tài giỏi thông tuệ về nhiều phương diện, mang dáng vóc và uy danh của dân tộc Đại Việt. Lý Công Uẩn chính là đại diện cho thế hệ trước hết của những con người khổng lồ về trí tuệ và thể chất đó. Tiếp nối ông sẽ là những vị vua như Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, những danh tướng như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhân Tông, Phạm Ngũ Lão… tiền trình tốt đẹp đáng tự hào ấy được khởi đầu từ ngày chiến thuyền của Lý Công Uẩn dời rừng núi Hoa Lư để tiến về phía Bắc.

Lời lẽ mở đầu của bài Chiếu vừa hào hùng, có sự phối hợp giữa lẽ và tình, với sự suy luận mạch lạc, đem lại cho người nghe, người đọc một nhận thức sâu sắc về lẽ phải và sự hợp lý của việc phải dời đô. Sức thuyết phục của bài Chiếu không ở chỗ dài lời, dàn trải. Thông qua phép đối, dưới phương thức văn biền ngẫu, Lý Công Uẩn đã đưa ra những lập luận, lý lẽ và chứng cứ hết sức thuyết phục. Đó không phải là những lời lẽ cứng nhắc, thuần túy mệnh lệnh của bậc đế vương (vốn là văn phong quan phương của thể Chiếu) mà đó chính là lý lẽ của sự thông tuệ, thấu hiểu, của niềm thông cảm, của nghệ thuật hùng biện xuất phát từ lợi ích chung của dân tộc, là lời tâm tình bộc trực của một vị minh quân. Sự phối hợp giữa lý và tình có sức thuyết phục cao, giàu xúc cảm, cùng với lối xưng hô thân tình và nỗi niềm đau xót cho quần chúng. # và giang sơn quốc gia (Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không đổi dời) sẽ là giọng điệu chung xuyên suốt bài Chiếu.Đoạn mở đầu của bài Chiếu đã tạo được niềm tin tưởng trong lòng người về mục đích cao cả của việc cần thiết phải dời đô. Nhưng đoạn tiếp theo không kém quan trọng là phải thuyết phục được muôn dân lựa chọn thành cổ Đại La để xây dựng Kinh đô mới. Cả hai phần đều hết sức thiết yếu, hỗ trợ lẫn nhau, sự thành công của nhiệm vụ thứ nhất sẽ là tiền đề cho thắng lợi của nhiệm vụ tiếp theo.

Chỉ một thời gian ngắn, sau khi được triều thần đưa lên ngai rồng vàng, Lý Công Uẩn đã có ý định dời đô. Ý định đó phát sinh vào tháng Giêng thì tới tháng Bảy mùa thu năm Canh tuất (1010) công cuộc vĩ đại đó đã được tiến hành. Rõ ràng kế bên sự anh minh, Lý Công Uẩn còn là một ông vua có tính cách quyết đoán và táo tợn. Đại La dưới con mắt của nhà chiến lược thiên tài Lý Công Uẩn có một vị trí thuận lợi đủ đường. Nơi đây đã từng là kinh đô một thuở dưới thời thống trị của Cao Biền, một người nổi danh về tài xem phong thủy. Nơi ấy cũng đã từng chứng kiến những chiến công oanh liệt của những thế hệ con dân đất Việt đánh đuổi quân đô hộ để phóng thích giang sơn quốc gia. Và cũng không phải là ngẫu nhiên khi Ngô Vương sau khi đánh đuổi quân Nam Hán, giành lại độc lập cho dân tộc đã lựa chọn mảnh đất Cổ Loa cao ráo xưa kia của Thục đế An Dương Vương – một địa danh rất sắp thành Đại La để định đô. Nhưng điều quan trọng còn là bởi: Đại La ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tươi tốt. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương quốc gia, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn thuở. Mục đích cuối cùng của việc lựa lựa chọn kinh đô mới cũng nhất quán với mục đích của việc dời đô khỏi Hoa Lư, đó là vì lợi ích của dân và tương lai lâu bền của xã tắc. Có những người phê phán cái nhìn có tính chất phong thủy của Lý Công Uẩn khi lựa chọn mảnh đất Đại La để xây dựng Kinh đô mới, nhưng cần phải nói rằng chính cái nhìn có tính chất thiêng liêng đó (ngày nay khoa học đã chứng minh vận dụng phong thủy trong việc lựa chọn thế đất trong xây dựng và thiết kế là một cách lựa lựa chọn cần thiết, có tính khoa học, tránh được những tổn thất không đáng có do không hiểu biết về địa hình và thổ địa) đã góp phần quan trọng vào việc tìm ra cho dân tộc một vùng đất xứng danh để xây dựng Kinh đô cho muôn thuở. Một Kinh đô vừa ở tư thế tiến công, lại vừa ở vị trí phòng thủ thuận lợi trong thế đụng độ với những thế lực xâm lược phương Bắc. Đó là nơi trung tâm của bốn phương quốc gia, giao thông tiện lợi, xung quanh Kinh đô là những vùng đất cổ trù phú lâu đời của tộc Việt với những truyền thống tốt đẹp đã tồn tại hàng trăm năm. Đó chính là chốn địa linh, địa lợi của đất Việt, nơi trung tâm tụ họp tinh hoa của nòi giống. Sau một nghìn năm dựng nước và giữ nước, lịch sử đã chứng minh rằng cái nhìn của Lý Công Uẩn là cái nhìn xuyên thấu lịch sử, cái nhìn của bậc hào kiệt biết mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn thuở.

Kết thúc bài Chiếu vị vua anh minh viết: Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. những khanh nghĩ thế nào? Câu nói ấy thể hiện ý thức dân chủ vốn là truyền thống của cộng đồng Việt trong những giờ phút quyết định của lịch sử.

Chiếu dời đô là áng văn học có vẻ đẹp toàn diện: Đó là vẻ đẹp hài hòa của sự thông tuệ, của tấm lòng yêu nước thương dân, của sự hy sinh và lòng quả cảm, của lòng tự tin, tự hào dân tộc, của sự suy ngẫm cho hiện tại và tương lai, của sự tiếp nối truyền thống, của khát vọng cháy bỏng về một quốc gia độc lập, thống nhất, thịnh vượng và hùng mạnh. Bài Chiếu vừa là áng văn chính luận súc tích, có kết cấu chặt chẽ, lập luận lôgic, vừa thể hiện lòng nhân ái mông mênh với thứ ngôn từ hùng biện, thuyết phục và rộng lượng, nhân ái mà lại mang ý thức hội thoại dân chủ.

Trên đây là văn mẫu chứng minh Chiếu dời đô có kết cấu chặt chẽ, lập luật giàu sức thuyết phục cùng tuyển lựa chọn văn mẫu chứng minh Chiếu dời đô có sức thuyết phục lớn bởi có sự phối hợp giữa lí và tình do Cmm.edu.vn tổng hợp được, mòng rằng với nội dung này những em sẽ có cho mình một bài văn chứng minh thật hay, ngoài ra còn rất nhiều đề tài văn mẫu khác thuộc văn mẫu lớp 8 mà những em có thể xem thêm:

[Văn mẫu 8] Em hãy chứng minh Chiếu dời đô có kết cấu chặt chẽ, lập luật giàu sức thuyết phục, tuyển lựa chọn văn mẫu chứng minh Chiếu dời đô có sức thuyết phục lớn bởi có sự phối hợp giữa lí và tình

Bản quyền bài viết thuộc trường THPT thành Phố Sóc Trăng. Mọi hành vi sao chép đều là gian lận!

Nguồn chia sẻ: Trường Cmm.edu.vn (thptsoctrang.edu.vn)

Bạn thấy bài viết Chiếu dời đô có kết cấu chặt chẽ, lập luật giàu sức thuyết phục có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Chiếu dời đô có kết cấu chặt chẽ, lập luật giàu sức thuyết phục bên dưới để Kênh Văn Hay có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: kenhvanhay.edu.vn của Kênh Văn Hay

Nhớ để nguồn bài viết này: Chiếu dời đô có kết cấu chặt chẽ, lập luật giàu sức thuyết phục của website kenhvanhay.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm bài viết hay:  Suy nghĩ của em về truyện ngắn Lão Hạc

Viết một bình luận